Transcription
Trong suốt hơn một thế kỷ, từ cuối thế kỷ thứ 18 đến đầu thế kỷ thứ 20, động cơ hơi nước và nền công nghiệp khai thác than đá đã là những trụ cột cho sự phát triển thần kỳ của chủ nghĩa tư bản và hai cuộc cách mạng công nghiệp. Tuy vậy, sự ra đời của động cơ đốt trong vào cuối thế kỷ thứ 19 và nhất là động cơ diesel đã phế ngôi vương của than đá. Đưa dầu mỏ và các chế phẩm của nó, như là dầu diesel, xăng, dầu mazut lên vị thế bá chủ của các nguồn nhiên liệu.
Mặc dù được phát hiện từ hàng ngàn năm trước Công Nguyên và bắt đầu được khai thác trên quy mô công nghiệp từ giữa thế kỷ thứ 19, nhưng ở thời kỳ đầu dầu mỏ chỉ được sử dụng tương đối hạn chế trong lĩnh vực cơ khí, y tế và chiếu sáng. Phải tới đầu thế kỷ thứ 20, sự thương mại hóa của động cơ diesel và nhu cầu phát triển khí tài quân sự phục vụ chiến tranh đã thúc đẩy mạnh mẽ quy mô khai thác dầu mỏ và biến nhiên liệu này trở thành mặt hàng quan trọng bậc nhất trên thế giới. Thậm chí, những giếng dầu còn giúp cho ông hoàng John Davidson Rockefeller trở thành tỷ phú đô la đầu tiên trên thế giới vào năm 1916. Không chỉ biến Rockefeller trở thành người giàu có nhất lịch sử hiện đại với tổng tài sản vào khoảng 336 tỷ đô theo thời giá năm 2016, dầu mỏ thậm chí còn ảnh hưởng tới hầu hết các sự kiện địa chính trị lớn nhất trên thế giới trong thế kỷ thứ 20 và đầu thế kỷ thứ 21.
Vậy thì bằng cách nào dầu mỏ, được ví như là vàng đen, đã và đang trở nên quan trọng đến thế? Bài viết của tác giả Wiki sẽ mang đến câu trả lời cho các bạn. Xin lưu ý với các khán thính giả rằng bài viết gốc “Dầu mỏ và hơn một thế kỷ kiểm soát thế giới” của cây bút Wiki tại website Spider Room đã từng được chúng mình truyền tải thành video vào năm 2020. Tuy nhiên, tại thời điểm đó, vì hạn chế về nguồn nhân lực nên đội ngũ Nhà Nhện vẫn chưa thể đầu tư làm sản phẩm chỉn chu nhất để phục vụ khán thính giả. Vì vậy, lần này chúng mình quyết định làm lại một phiên bản hoàn chỉnh hơn, đầy đủ thông tin hơn để có thể mang đến một góc nhìn toàn diện nhất về lịch sử phát triển của nguồn năng lượng có giá trị lớn nhất thế giới ở thời điểm hiện tại. Lời của người viết bài viết dựa trên ý tưởng “How all came to control the world” của tác giả Ao Senzu ở trên Medium. Hãy cùng bắt đầu các nội dung chính ngay sau [âm nhạc] đây.
Tài nguyên quân sự chiến lược. Đầu thế kỷ thứ 20, hầu hết các tàu chiến vẫn còn chỉ sử dụng động cơ hơi nước. Để so sánh, động cơ đốt trong có hiệu suất nhiệt gấp đôi, do đó giúp thu hẹp kích thước buồng đốt, giảm kích cỡ tàu, tăng tốc độ và nâng tầm hoạt động lên gấp đôi. Nhưng chỉ có Hoa Kỳ và Anh thực sự quan tâm đến việc nâng cấp tàu chiến của mình. Tới năm 1912, thời điểm căng thẳng ở châu Âu leo thang và chiến tranh đang ở ngưỡng cửa, Bộ trưởng Nội vụ Anh Churchill đã đưa ra một quyết định chiến lược là chuyển sang sử dụng động cơ đốt trong cho toàn bộ các tàu chiến thuộc hạm đội hải quân Hoàng Gia Anh. Bất chấp thực tế là Vương quốc Anh sở hữu lượng than đá và hệ thống trạm tiếp than khổng lồ, nhưng hoàn toàn không có dầu mỏ. Thực tế chiến trường đã chứng minh tầm nhìn của Churchill đã hoàn toàn chính xác. Các tàu chiến của Anh chiếm ưu thế gần như là tuyệt đối trên mặt biển.
Tuy vậy, dưới lòng đại dương lại là một câu chuyện khác. Người Đức không bỏ qua động cơ đốt trong, họ chỉ chuyển sự tập trung cho một loại khí tài khác, mang tên là tàu ngầm. Những tàu ngầm U-boat thời kỳ đầu của Đức đã gây cho người Anh không ít khốn đốn. Và thậm chí làm phát sinh nạn đói tại Anh do các tàu chở hàng cung cấp lương thực và nhu yếu phẩm thường xuyên trở thành miếng mồi ngon cho tàu ngầm Đức.
Chiến tranh thế giới thứ nhất là cuộc chiến tranh chiến hào, trong đó hai bên giao chiến và phòng thủ trong một hệ thống hào sâu với súng máy, dây thép gai và bãi mìn, rồi chờ đợi bên kia tiến công. Đây là những cuộc chiến đẫm máu, dai dẳng và vô cùng tiêu hao nhân lực. Cục diện trên chiến trường do đó có rất ít đột biến và kết quả thường phụ thuộc chủ yếu vào độ dẻo dai của các bên tham chiến. Tuy vậy, trong giai đoạn cuối, sự xuất hiện của xe tăng, dù chỉ rất sơ khai, đã đặt dấu chấm hết cho phong cách chiến tranh chiến hào. Chiến tranh cơ giới từ đây lên ngôi. Xe tăng và các loại xe thiết giáp khác nhanh chóng phát triển với tốc độ chóng mặt và trở thành ông hoàng vũ khí ở trên mặt đất. Mỗi chiếc xe tăng tiêu thụ từ 300 đến 500 lít xăng dầu. Các khí tài này yêu cầu một nhu cầu dầu khổng lồ.
Tới giai đoạn chiến tranh thế giới lần thứ hai, dầu mỏ đã thực sự gây ảnh hưởng lên rất nhiều các chiến lược quân sự. Trong giai đoạn đầu, Hoa Kỳ vẫn đứng ngoài cuộc chiến và giữ thái độ trung lập. Chỉ sau khi cuộc đánh úp Trân Châu Cảng của quân đội Nhật Bản diễn ra, Hoa Kỳ mới chính thức tham chiến. Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc tấn công vào Trân Châu Cảng là do Hoa Kỳ cấm vận dầu mỏ và thương mại với Nhật Bản, đồng thời Đế quốc Nhật e ngại Hải quân Mỹ sẽ cắt đứt con đường giao thương trên biển nối Nhật Bản về khu vực Đông Ấn, vốn có rất nhiều giếng dầu. Trên mặt trận châu Âu, trong cuộc xâm lược Liên Xô, các mỏ dầu ở Baku là một trong những mục tiêu đánh chiếm đầu tiên của Đức Quốc xã thông qua chiến dịch Caucasus. Thậm chí khi chiến sự tại Stalingrad lên tới đỉnh điểm, Hitler đã từ chối gửi quân tiếp viện từ Caucasus, cách đó 700 km, và khẳng định: “Nếu không chiếm được các mỏ dầu tại Baku, chúng ta sẽ thua cuộc chiến này”. Sau cùng, như chúng ta đã biết, Đức Quốc xã thua cả hai trận Stalingrad và Caucasus, cũng như thất bại trong toàn bộ cuộc chiến, đúng như lời tuyên bố của Hitler. Có thể nói, dầu mỏ đã góp phần không nhỏ trong việc thay đổi diện mạo chiến tranh và ngành công nghiệp vũ khí, là nhiên liệu đóng vai trò quan trọng trên chiến trường. Dầu mỏ khiến các quốc gia tham chiến trở nên lệ thuộc vào những nguồn cung cách xa hàng ngàn cây số.
Trước khi dầu nổi lên thành mặt hàng chiến lược số một, khu vực Trung Đông khô cằn, vốn khá yên ổn và gần như không đóng nhiều vai trò trong bản đồ địa chính trị quốc tế. Nhưng kể từ khi công nghệ thăm dò cho biết ẩn dưới những sa mạc cát mênh mông là hàng tỷ tỷ thùng dầu, chiếm tới 60% trữ lượng dầu mỏ trên toàn thế giới, vùng đất của những cây trà và những đoàn lạc đà, cùng những người Ả Rập, bỗng tự dưng vụt sáng trở thành một khu vực chiến lược và có tiếng nói vô cùng quan trọng. Dầu mỏ đã đặt nền tảng cho sự giàu có xa hoa ở Trung Đông ngày nay. Nhưng cũng là nguyên nhân khởi phát cho vô vàn những căng thẳng quốc tế và những cuộc xung đột tại khu vực này.
OPEC và cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, thế giới chia thành hai cực: Mỹ và Liên Xô, và cuộc chiến tranh lạnh bắt đầu. Nếu như Liên Xô có các mỏ dầu trải khắp lãnh thổ thì các nguồn dự trữ dầu mỏ của Hoa Kỳ gần như là cạn kiệt sau chiến tranh. Căng thẳng ngày càng tăng cao trong việc giành quyền kiểm soát nguồn tài nguyên chiến lược này khiến cho Cơ quan Tình báo Trung ương CIA của Hoa Kỳ, trong các đời tổng thống từ Eisenhower đến Kennedy, đã chuẩn bị sẵn sàng một kế hoạch tối mật mang tên là “Chính sách khước từ dầu mỏ” (or Denial Policy). Theo đó, nếu Liên Xô dành được ảnh hưởng tại Ả Rập Xê Út, Iran, Iraq và Liban, hay là các nước khác, Hoa Kỳ và Anh sẽ lập tức gửi máy bay ném bom hạng nặng nhằm tiêu diệt hoàn toàn các giếng dầu nơi đây.
Ý thức được tầm quan trọng của mình, bốn nước Ả Rập có trữ lượng dầu mỏ lớn nhất là Saudi Arabia, Iran, Iraq và Kuwait, cùng Venezuela, thành lập Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) vào năm 1960 tại Baghdad, nhằm bảo đảm quyền lợi cho các nước xuất khẩu dầu và nâng cao vị thế trên trường quốc tế. Trong 10 năm đầu, OPEC liên tục mở rộng và chiếm hơn nửa tổng sản lượng khai thác dầu thế giới. Ảnh hưởng đậm nét đầu tiên của OPEC tới tình hình thế giới là sự xuất hiện của họ trong cuộc chiến Yom Kippur, do liên minh các nước Ả Rập phát động nhằm vào Israel khi đó, nhằm ủng hộ liên quân Ả Rập. OPEC quyết định cấm vận xuất khẩu dầu mỏ sang các nước ủng hộ Israel, bao gồm Hoa Kỳ và một số nước đồng minh khác. Các nền kinh tế tại đây bị ảnh hưởng trực tiếp do nguồn cung cấp dầu lớn nhất bị cắt. Giao thông vận tải trì trệ, giá dầu tăng lên bốn lần, từ 3 đô lên 12 đô trên một gallon. Chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là ngành công nghiệp xe hơi và đặc biệt là tại Hoa Kỳ. Kỷ nguyên của những chiếc siêu xe cơ bắp, phong cách Mỹ siêu trường, siêu trọng, siêu tốc độ và cũng siêu ngốn nhiên liệu đã đi đến thời kết thúc. Xe hơi Nhật Bản với triết lý bền bỉ, tiết kiệm nhiên liệu nổi lên, bắt đầu chiếm lĩnh thị trường Mỹ và quốc tế. Toyota, từ một nhà sản xuất với thị trường chính là nội địa, đã tăng hơn ba lần tổng doanh thu trong 10 năm kể từ sau cuộc khủng hoảng năm 1973 và ngày nay đang là một trong những nhà sản xuất xe hơi số 1 thế giới.
Cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 cũng đồng thời làm thay đổi nhận thức của nhiều quốc gia về việc giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. Cộng đồng quốc tế lần đầu tiên ý thức được tầm quan trọng của việc tiết kiệm năng lượng. Các nguồn năng lượng sạch, như là năng lượng mặt trời và năng lượng gió, bắt đầu được tập trung nghiên cứu. Năng lượng hạt nhân được đầu tư phát triển trên quy mô lớn, đặc biệt là tại Pháp và Nhật Bản. Đầu tư nghiên cứu các nguồn nhiên liệu tái tạo, nhiên liệu sạch chính thức trở thành một xu hướng phát triển đầy hứa hẹn trên quy mô toàn cầu.
Sự phụ thuộc của Hoa Kỳ vào dầu mỏ. Thấm thía bài học sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973, Hoa Kỳ nhận thức rõ ràng tầm quan trọng chiến lược của Trung Đông và cố gắng biến các nước Ả Rập trở thành đồng minh thân cận đối với mình. Tháng 6 năm 1974, Tổng thống Nixon đã ký với Vương quốc Saudi Arabia thoả thuận tiêu chuẩn hoá giá dầu theo đô la Mỹ (hệ thống Petrodollar). Theo đó, tất cả dầu khai thác tại Saudi Arabia đều chỉ được bán ra thị trường theo giá đô la Mỹ. Đổi lại, Mỹ sẽ cung cấp cho Saudi Arabia sự bảo trợ về quân sự, cung cấp vũ khí, trang bị cho quân đội Saudi Arabia và đảm bảo an toàn cho nước này trước mối đe dọa từ Israel. Saudi Arabia trở thành nước xuất khẩu dầu mỏ nhiều nhất OPEC và có tiếng nói hàng đầu trong thế giới Ả Rập. Do đó, không ngạc nhiên khi mà tới năm 1975, tất cả dầu do OPEC bán ra đều tính theo giá đô la Mỹ. Điều này đồng nghĩa với việc mọi quốc gia muốn mua dầu của OPEC thì trước hết phải mua đô la. Giá trị của dầu do đó càng củng cố thêm vị thế đồng tiền giá trị nhất thế giới, làm tăng tính thanh khoản cho thị trường tài chính Hoa Kỳ và giữ lãi suất cho vay ở mức thấp. Việc gắn chặt dầu mỏ với đô la Mỹ nhằm củng cố vị thế của đồng tiền này cũng khiến cho nền kinh tế Hoa Kỳ ngày càng phụ thuộc vào dầu mỏ.
Sự phụ thuộc đó nhanh chóng bị bộc lộ khi cuộc cách mạng Hồi giáo tại Iran bùng nổ năm 1979. Cuộc cách mạng này được xem như là một trong ba cuộc cách mạng quan trọng nhất lịch sử nhân loại, sau cuộc cách mạng Pháp và cuộc Cách mạng tháng Mười Nga, đã lật đổ chế độ quân chủ tại Iran và làm gián đoạn nghiêm trọng sản lượng khai thác dầu của nước này, khi đây là nhà xuất khẩu dầu lớn thứ hai ở trong OPEC. Mặc dù OPEC đã tăng sản lượng để bù đắp, tâm lý lo ngại vẫn lan rộng, khiến cho giá dầu tăng gấp gần ba lần, dẫn đến một cuộc suy thoái kéo dài 30 tháng tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên, trên bình diện quốc tế, cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ hai này lại không gây ra hậu quả nghiêm trọng như trước. Nhiều quốc gia đã rút được kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng dầu mỏ đầu tiên và kịp thời phát triển các nguồn năng lượng thay thế. Chẳng hạn như là Pháp và Nhật Bản đã xây dựng các cơ sở điện hạt nhân quy mô lớn để giảm sự phụ thuộc vào dầu mỏ. Bên cạnh đó, giá dầu tăng mạnh cũng tạo cơ hội cho các quốc gia ngoài OPEC gia nhập thị trường, bao gồm Mexico, Trung Quốc và Brazil.
Khi tình hình Trung Đông dần ổn định, sản lượng khai thác phục hồi, khiến nguồn cung cấp dầu tràn ngập thị trường. Giá dầu, từ mức 35 đô một thùng vào năm 1981, đã giảm xuống dưới 10 đô trên một thùng vào năm 1986, đánh dấu sự đảo chiều lớn trong chu kỳ biến động năng lượng toàn cầu. Nền kinh tế Mỹ giờ đây đã phụ thuộc quá lớn vào sản lượng dầu mỏ tại Trung Đông. Do đó, Hoa Kỳ không chấp nhận bất kỳ bất ổn chính trị nào có nguy cơ làm giá dầu tăng vọt nữa. Năm 1990, khi Iraq xâm lược Kuwait, khoan các giếng dầu vào đất Iraq, Hoa Kỳ ngay lập tức gửi quân can thiệp. Cuộc chiến tranh vùng Vịnh kết thúc với thất bại của Saddam Hussein và Mỹ để lại gần 250.000 binh lính tại Trung Đông sau cuộc chiến. Để so sánh về quy mô, vào thời điểm năm 1989, chỉ có chưa tới 700 binh sĩ Hoa Kỳ được triển khai tại đây. “Mọi nỗ lực can thiệp của bất kỳ lực lượng bên ngoài nào ngoài Hoa Kỳ nhằm giành quyền kiểm soát khu vực Vịnh sẽ được coi là một cuộc tấn công vào lợi ích thiết yếu của Hoa Kỳ. Một cuộc tấn công như vậy sẽ bị đẩy lui bằng mọi phương tiện cần thiết, bao gồm cả sức mạnh quân sự.” (Tổng thống Jimmy Carter, thông điệp liên bang năm 1980). Bên cạnh đó, rất nhiều người tin rằng một trong những lý do khiến cho Mỹ tấn công Iraq vào năm 2003 là do Saddam Hussein đang cố gắng bán dầu theo đồng Euro. Và sẽ thật thú vị nếu biết mới đây Trung Quốc tuyên bố sẽ mua dầu thô bằng đồng nhân dân tệ. Trung Quốc, nước nhập khẩu dầu thô lớn nhất thế giới, tiếp tục thách thức uy quyền của đồng đô la Mỹ và Hoa Kỳ.
Cũng phải kể tới những năm đầu của thế kỷ 21, giá dầu một lần nữa tăng phi mã do nhu cầu năng lượng tăng cao trên toàn cầu, đặc biệt là tại Trung Quốc. Khi nền kinh tế của quốc gia tỷ dân trỗi dậy vô cùng mạnh mẽ, trong hoàn cảnh đó, một thế lực cũ là Nga, với trữ lượng dầu mỏ đứng thứ tám trên thế giới, đã không bỏ qua cơ hội. Nga đã nhanh chóng vượt qua Saudi Arabia để trở thành nước có sản lượng khai thác dầu lớn nhất thế giới và khoảng 13% tổng sản lượng trên toàn cầu. Nguồn tiền dồi dào từ dầu mỏ giúp cho Nga trở lại mạnh mẽ sau giai đoạn trì trệ hậu Xô Viết và dần dần khôi phục vị thế siêu cường trên thế giới.
Sự trở lại của Nga, sự vượt lên của Trung Quốc và một sự phụ thuộc không hề dễ chịu vào dầu mỏ của OPEC. Thế giới bắt đầu xuất hiện nhiều hơn những nỗi e ngại về sự suy giảm quyền lực của Mỹ trên bình diện quốc tế. Nhưng rồi sự phụ thuộc của Mỹ vào Trung Đông thay đổi bởi một yếu tố ít ai ngờ tới: công nghệ. Hoa Kỳ vốn không bao giờ thiếu những nhà tư bản nhanh nhạy và những công nghệ hiện đại nhất. Họ sẽ không ngồi yên đứng nhìn vị thế của mình bị lung lay. Đó cũng là lúc dầu đá phiến, hay là dầu khí phi truyền thống, vươn lên thách thức dầu khí truyền thống.
Dầu đá phiến và công nghệ khai thác mới. Dầu mỏ được hình thành từ xác của các sinh vật bị trôn vùi, trộn lẫn với trầm tích và các vật chất khác, tạo nên các lớp bùn lắng hữu cơ. Qua hàng triệu năm, các lớp bùn lắng hữu cơ này ngày càng bị đè nén dưới các lớp trầm tích, tạo nên một môi trường áp suất lớn và nhiệt độ cao, làm phân giải các lớp bùn và hữu cơ. Từ đây, dầu và khí được tạo nên. Nếu trong lòng đất xuất hiện những khu vực rỗng có áp suất thấp, dầu và khí sẽ dồn về đó để tạo nên các túi dầu thô và khí đốt khổng lồ. Các túi này được gọi là các vỉa dầu, được khai thác bằng công nghệ truyền thống. Tuy nhiên, nếu không tìm được những túi áp suất thấp để dồn về thì dầu và khí sẽ len lỏi và tích tụ xen kẽ trong các lớp đá phiến, gọi là dầu đá phiến. Dầu đá phiến được phát hiện cùng thời điểm với dầu mỏ truyền thống, nhưng do tính chất phân tán ở sâu hơn dưới lòng đất so với các túi dầu truyền thống nên việc khai thác dầu đá phiến tỏ ra không hiệu quả với trình độ khoa học và công nghệ trong thế kỷ 20.
Tính từ cuộc can thiệp vào Iraq năm 2003, giá dầu bắt đầu một giai đoạn tăng giá liên tục và gây áp lực không nhỏ lên Mỹ. Trong bối cảnh đó, hai công nghệ khoan cũ mà mới đã giúp cho Hoa Kỳ giải bài toán phụ thuộc đó là công nghệ nứt vỡ hay là nứt vỉa thủy lực và khoan cắt ngang tầng. Gọi là cũ vì chúng đã được sử dụng từ thế kỷ thứ 20, nhưng chỉ khi chúng được ứng dụng vào khai thác dầu đá phiến thì đây mới thực sự tạo nên một cuộc cách mạng. Việc khai thác dầu đá phiến trở nên hiệu quả hơn, chi phí đầu tư ban đầu thấp hơn nhiều, chỉ vài triệu đô la cho giếng dầu đá phiến và có thể đem lại lợi nhuận ngay lập tức. Khi so sánh với khai thác truyền thống cần hàng trăm triệu đô la Mỹ với thời gian khai thác trên 20 năm, không khó hiểu khi hàng loạt các doanh nghiệp tư nhân nhảy vào cuộc chơi khai thác dầu. Hoa Kỳ bỗng dưng nhận được chiếc chìa khóa mở cánh cửa dẫn tới những mỏ dầu đá phiến với trữ lượng khổng lồ tại North Dakota hay là Texas.
Tính từ cột mốc năm 2008, năm mà giá dầu bị tụt xuống mức kỷ lục từ 150 đô la trên một thùng xuống 30 đô la, Mỹ đã cung cấp thêm cho thị trường 4 triệu thùng dầu thô mỗi ngày, một con số đáng chú ý khi đặt cạnh tổng sản lượng 75 triệu thùng dầu mỗi ngày trên toàn cầu. Ấn tượng hơn, từ chỗ phụ thuộc phần lớn vào dầu mỏ nhập khẩu, Mỹ đã trở thành nước khai thác dầu mỏ và khí tự nhiên số một thế giới, với tổng sản lượng xăng dầu và khí đốt vượt Nga năm 2012 và vượt Saudi Arabia năm 2013. Hoa Kỳ hiện tại đã là nước đứng đầu về sản lượng xăng dầu và khí tự nhiên trong nhiều năm liên tiếp.
Dầu mỏ và sự khôi phục vị thế siêu cường của nước Nga. Cuối năm 1991, Liên bang Xô Viết sụp đổ. Nước Nga kế thừa các di sản của Liên Xô. Boris Yeltsin trở thành Tổng thống đầu tiên của nước Nga hiện đại và là nhân chứng lịch sử cho sự tuột dốc thảm hại của thời kỳ hậu Xô Viết. GDP của Nga sụt giảm theo từng năm và tới năm 1998, quốc gia này thậm chí rơi vào tình trạng vỡ nợ. Vị thế nước Nga giờ đây cũng suy sụp thảm hại trên trường quốc tế. Yeltsin từ chức trong ngày cuối cùng của thiên niên kỷ thứ hai. Thủ tướng Putin trở thành tổng thống. Yeltsin nổi tiếng với tư tưởng thân phương Tây, còn Putin thì ngược lại. Một năm sau ngày nhậm chức, Putin thay đổi quốc ca Nga dưới thời Yeltsin, sử dụng lại nền nhạc của Quốc ca Liên Xô, thể hiện rõ tham vọng khôi phục vị thế siêu cường thế giới.
8 năm đầu cầm quyền của Putin chứng kiến GDP nước Nga tăng sáu lần. Sự tăng trưởng thần kỳ này gắn liền với sự gia tăng phi mã của giá dầu thế giới thế kỷ thứ 21. Dầu mỏ và khí đốt chiếm hơn 60% giá trị hàng xuất khẩu và đóng góp gần 40% vào GDP Nga. Dầu mỏ còn giúp Nga áp đặt ảnh hưởng chính trị lên châu Âu khi cung cấp tới 50% nhu cầu năng lượng cho lục địa già, thông qua hệ thống đường dẫn dầu dày đặc tại những nước Đông và Trung Âu. Nguồn cung cấp dầu khí đến từ Nga thậm chí là 100% theo ước tính, nếu Nga ngừng cung cấp khí đốt, nhiều nước châu Âu như là Italia, Đức sẽ chỉ tự chủ về năng lượng được khoảng hơn hai tuần trước khi rơi vào tình trạng khẩn cấp. Nước Nga dưới thời Putin không ít lần sử dụng ưu thế độc quyền về năng lượng này để đưa ra những thông điệp đầy sức nặng trên bàn cờ chính trị. Những đường ống dẫn dầu và sự cứng rắn của Putin đã giúp nước Nga khôi phục được vị thế và làm bàn đạp lan toả ảnh hưởng địa chính trị, giữ vững vị trí thường trực với quyền phủ quyết ở trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, tăng cường ảnh hưởng văn hoá, thể thao khi đăng cai Thế vận hội Mùa đông Sochi năm 2014 và World Cup 2018. Siêu cường mà Putin đã và đang xây dựng cho nước Nga chính xác là một siêu cường dựa trên năng lượng.
Đường lối chính trị ống dẫn dầu của Nga không phải là không có điểm yếu. Những đường ống dẫn yêu cầu chi phí lắp đặt và bảo dưỡng, bảo trì cao, với thời gian đảm bảo lợi nhuận trên 20 năm. Hơn nữa, còn tiềm ẩn nguy cơ trở thành mục tiêu khủng bố khi chạy qua những khu vực bất ổn về chính trị, xã hội. Bên cạnh đó, công nghệ hoá lỏng khí đốt giúp vận chuyển khí đốt an toàn bằng đường bộ và đường biển mà không còn phụ thuộc vào đường ống dẫn khí cũng đang để ngỏ những cơ hội trong tương lai cho các nhà cung cấp khí hoá lỏng từ Hoa Kỳ và các nước như là Brazil, Mexico.
Mâu thuẫn trong nội bộ OPEC. Từ chỗ đỉnh điểm nắm giữ 60% sản lượng khai thác dầu thô thế giới vào năm 2014, OPEC đã mất 1/3 thị trường và chỉ còn nắm trong tay 40% thị phần. Vị thế suy giảm, nội bộ các nước cũng nảy sinh mâu thuẫn. Trong cuộc họp tại Vienna vào tháng 11 năm 2014, thời điểm mà giá dầu giảm sâu từ mức trên 100 đô la hồi đầu năm xuống còn 50 đô la trên một thùng, vài nước như là Venezuela hay là Iran muốn cắt giảm sản lượng để đẩy giá dầu lên lại, trong khi Saudi Arabia muốn duy trì sản lượng do lo ngại tình trạng cắt giảm sản lượng mà không ngăn được đà giảm giá dầu như những năm 1980. Bên cạnh đó, Saudi Arabia hy vọng giá dầu giảm trong một thời gian nhất định sẽ gây sức ép lên các công ty khai thác tư nhân.
Nhân ở Mỹ phải cắt giảm sản lượng, qua đó đẩy giá dầu tăng trở lại mà không cần cắt giảm sản lượng của OPEC. Mâu thuẫn quan điểm giữa hai nước xuất khẩu đứng đầu OPEC là Saudi Arabia và Iran thực sự đã âm ỷ từ trước đó, do mối thâm thù lịch sử giữa những người Hồi giáo Shia và Sunni.
Mọi chuyện bắt đầu vào năm 632, sau khi người sáng lập ra Hồi giáo là nhà tiên tri Muhammed qua đời mà không chỉ định người kế vị. Cuộc tranh chấp quyền thừa kế chia cộng đồng Hồi giáo thành hai phe: những người Sunni ủng hộ Abu, phụ tá và là cha vợ của nhà tiên tri; còn những người Shia ủng hộ người anh họ và đồng thời cũng là con rể nhà tiên tri là Muhammed Ali. Cả Abu và Muhammed Ali, và con trai Ali sau này đều bị ám sát. Chỉ sau vài tháng trở thành lãnh tụ, hai giáo phái bắt đầu chia rẽ sâu sắc. Người Sunni luôn cáo buộc người Shia tôn thờ dị giáo, do quan điểm tín ngưỡng và các thủ lĩnh của họ là hiện thân của đường tối cao. Còn người Shia thì tố cáo sự giáo điều cứng nhắc của dòng Sunni đã hình thành nên các giáo phái cực đoan và khủng bố.
Những người Sunni chiếm đa số trong cộng đồng Hồi giáo (80%), và cũng chiếm đa số tại Trung Đông. Trong đó, Saudi Arabia được xem như là lãnh đạo của cộng đồng này. Trong khi đó, sau cuộc cách mạng Hồi giáo tại Iran năm 1979, những người Shia lên nắm quyền tại đây và luôn cố gắng mở rộng ảnh hưởng của mình tại Trung Đông. Mâu thuẫn giữa hai quốc gia có tiềm lực kinh tế, quân sự và ảnh hưởng chính trị mạnh nhất khu vực vốn đã âm ỷ này lại càng thêm gay gắt do những bất đồng kể trên trong việc điều chỉnh sản lượng khai thác dầu.
Câu chuyện Venezuela và Nigeria. Dầu mỏ đã mang lại sự thịnh vượng và tầm ảnh hưởng cho các nước có trữ lượng dầu mỏ dồi dào như Trung Đông, Nga, Hoa Kỳ. Nhưng nó không phải là tấm lệnh bài đảm bảo cho sự thành công. Đất nước có trữ lượng dầu mỏ lớn nhất thế giới, Venezuela, có 95% doanh thu xuất khẩu tới từ dầu mỏ. Giá dầu tăng cao nhất trong những năm đầu thế kỷ 21 đã che mờ mắt những nhà quản lý đất nước về một nền kinh tế chỉ biết trông chờ duy nhất vào dầu mỏ. Khi giá dầu lao dốc, kinh tế Venezuela nhanh chóng sụp đổ, lạm phát phi mã hàng chục nghìn phần trăm, tiền mặt trở thành vô nghĩa, hàng hóa cạn kiệt. Khung cảnh tại Venezuela chỉ còn lại một đống hoang tàn.
Với Nigeria, nước có trữ lượng dầu mỏ thứ 10 thế giới, lại là một câu chuyện khác. Trong thời kỳ tăng trưởng thần tốc của giá dầu, thập niên 70, Nigeria đã vay những khoản tiền khổng lồ để xây dựng cơ sở hạ tầng khai thác dầu. Nhưng sau thập niên 1980, giá dầu xuống thấp kỷ lục, Nigeria vật lộn trong nợ nần và các khoản trả lãi. Hiện nay, Nigeria đã thu xếp được một phần các khoản nợ, nhưng mà nền kinh tế vẫn phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu dầu mỏ và vô cùng nhạy cảm với những biến động của thị trường.
Không quá khi nói rằng các nguồn năng lượng đã làm xoay chuyển bánh xe lịch sử hiện đại. Và sau hơn một thế kỷ tới nay, dầu mỏ và khí đốt vẫn đang nắm giữ ngôi vua của các nguồn năng lượng. Trong chiến tranh, dầu đã trao vương miện chiến thắng cho những người kiểm soát được nó, tạo nên những hiệp định và những đồng minh quân sự hoàn toàn dựa trên lợi ích dầu mỏ, đồng thời xác định được tiềm năng và phần nào đó quyết định được sự tăng trưởng kinh tế của các quốc gia. Có lẽ, xuyên suốt lịch sử nhân loại cho tới nay, chưa có yếu tố vật chất nào có thể gây ảnh hưởng trực tiếp tới nhiều sự kiện quốc tế như là vậy. Và có lẽ trong tương lai rất xa nữa, sẽ không có mặt hàng nào có thể thay đổi được sự ảnh hưởng đó. Lịch sử luôn để lại những bài học kinh nghiệm. Sau hơn một thế kỷ giàu mỏ, chân lý đã được tạo nên: Ai kiểm soát năng lượng, người đó sẽ kiểm soát cả thế giới.
Nếu các bạn thích bài viết này, hãy like, like và share. Để ủng hộ chúng mình, đừng quên bấm nút Subscribe và nút chuông bên cạnh để không bỏ lỡ những nội dung khác bọn mình ra trong tương lai. Cảm ơn các bạn đã lắng nghe. Đây là Spider Room, còn mình là Ping Doot. See!