Transcription
Cuối thế kỷ 20, khu vực phía đông châu Á được xem là nơi tập trung của những nền kinh tế phát triển nhanh chóng. Hai kỳ tích kinh tế là Nhật Bản và Hàn Quốc, cũng như sự đi lên của hai con hổ khác ở Đông Nam Á là Thái Lan và Singapore, cho thấy sức bật đáng kinh ngạc của khu vực kinh tế này trong những năm 90.
Tuy nhiên, tiệc nào rồi cũng phải có tan cuộc. Đến năm 1997, toàn bộ công sức xây dựng và phát triển của khu vực kinh tế châu Á trong hàng chục năm đã bị đánh sập chỉ trong vài tháng ngắn ngủi. Vậy đã có điều gì xảy ra khiến khu vực này lâm vào khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng và cuộc khủng hoảng này để lại bài học gì cho các nhà hoạch định kinh tế quốc gia sau này?
Hãy cùng tìm hiểu chi tiết trong bài viết sau đây tới từ tác giả Lê Công Thành trên Spyroom. Lưu ý, các quốc gia bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng trong các nội dung tiếp theo đều đến từ phía Đông Châu Á. Vậy nên, Đông Á ở đây là tên gọi chỉ các quốc gia nằm ở phía đông bắc, kéo dài từ Trung Quốc đến Nhật Bản, chứ không bao gồm toàn bộ khu vực. Cụm từ Đông Á và Đông Nam Á trong nội dung phân tích dùng để bao hàm đầy đủ các quốc gia ảnh hưởng và tránh gây nhầm lẫn.
Bối cảnh kinh tế của các nước Châu Á cuối thế kỷ 20. Hãy cùng tiến đến Đông Nam Á, khu vực được thúc đẩy mạnh nhất về kinh tế trong khoảng thời gian những năm 80 và 90 của thế kỷ 20. Nhờ vào vị trí tốt trên bản đồ thế giới, dân số lớn và giá nhân công lại rẻ, Đông Nam Á được xem là trung tâm của sự bứt phá vào giai đoạn những năm 80.
Không chỉ nổi bật nhờ tiềm năng nội tại của khu vực, những biến chuyển kinh tế liên quan đến Nhật Bản cũng là một điểm quan trọng khiến sự chú ý của thế giới hướng vào Đông Nam Á. Năm 1985, Hiệp định Plaza được ký kết giữa nhóm G5 của thế giới về vấn đề tăng tỷ giá đồng yên so với USD. Điều này khiến hoạt động sản xuất tại Nhật trở nên đắt đỏ và nguồn vốn buộc phải chuyển từ Nhật sang các quốc gia có tiềm năng. Khu vực Đông Nam Á từ đây nổi lên, hơn 15 tỷ đô được đổ vào quốc gia Đông Nam Á, khiến cho hoạt động kinh tế ở đây trở nên cực kỳ sôi động.
Đặc biệt trong Đông Nam Á, Thái Lan là ngôi sao sáng nhất khi là quốc gia hiếm hoi không bị ảnh hưởng nặng nề bởi Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhờ vào chính sách ngoại giao mềm dẻo và linh hoạt, Thái Lan trở thành quốc gia yên bình và ổn định nhất trong khu vực. Đi kèm với tất cả các ưu điểm khác như vị trí địa lý, nhân công rẻ, khiến các nhà đầu tư rất thích mang tiền của mình đến với quốc gia này.
Không chỉ có dòng vốn chuyển dịch từ Nhật Bản, các nhà đầu tư phần lớn từ Mỹ cũng rất hứng thú khi đầu tư vào Đông Á và Đông Nam Á. Nhận thấy cả khu vực dần trở thành một điểm nóng kinh tế, các quốc gia trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á ngay lập tức tiến hành thúc đẩy các chính sách có lợi để thu hút FDI. Điển hình trong số đó là các động thái tự do hóa tài chính, tạo không gian thoải mái hơn cho dòng vốn nước ngoài chảy vào nhanh chóng. Ngoài ra, một số quốc gia còn cho các ngân hàng, tổ chức tài chính nước ngoài can thiệp sâu vào hoạt động tài chính nội địa. Ví dụ như người dân trong nước đã được tiếp cận các gói bảo hiểm khoản vay đến từ các ngân hàng nước ngoài.
Thái Lan đã thể hiện quyết tâm rất lớn trong việc thu hút vốn đầu tư để phát triển đất nước. Họ không chỉ gỡ bỏ các rào cản về ngoại hối mà còn mở ra một kênh riêng để chào đón dòng vốn nước ngoài, khởi nguồn với Trung tâm Ngân hàng Quốc tế Bangkok. Những nỗ lực này sau đó đã được đền đáp. Giai đoạn 1990-1997 chứng kiến một sự bùng nổ. Dòng vốn tư nhân trên toàn cầu đã tăng vọt hơn 5 lần, từ 42 tỷ đô lên 256 tỷ đô. Đáng chú ý hơn, có đến 60% trong số vốn khổng lồ đó đã chảy vào khu vực Đông Á và Đông Nam Á. Một minh chứng rõ ràng cho thấy chiến lược thu hút vốn đầu tư đã phát huy hiệu quả tích cực.
Tỷ giá cố định, con dao hai lưỡi của nền kinh tế. Sự hấp dẫn của khu vực Đông Á và Đông Nam Á không chỉ đơn giản là mở cửa đối với các tổ chức tài chính nước ngoài, họ còn trải thảm đỏ bằng các cam kết cực kỳ hấp dẫn, và một trong số đó là cam kết về tỷ giá cố định. Vậy tỷ giá cố định là gì và vì sao điều đó quan trọng trong câu chuyện này?
Thay vì hàng ngày ta nhìn thấy đồng tiền nội địa của mình xê dịch tỷ giá liên tục, thì giờ đây chính phủ sẽ cam đoan rằng những ai đang cầm tiền của quốc gia đó có thể đổi lấy đô với một tỷ lệ cố định và không thay đổi theo thời gian. Đó chính là tỷ giá cố định. Ví dụ như ở Thái Lan, tỷ giá 1 đô la đổi lại 25 bạt đã không thay đổi trong nhiều năm.
Vậy vì sao lời hứa này quan trọng? Nó quan trọng vì trong các viễn cảnh của tỷ giá thả nổi, tức là giá trị tương đối của đồng tiền biến đổi liên tục, thì sau 1 năm đồng tiền nội địa có thể mất đi 5% đến 10% giá trị so với USD là chuyện bình thường. Vậy nên, với lời hứa về tỷ giá cố định, rủi ro xê dịch tỷ giá sẽ gần như không xảy ra. Lúc này, những người cầm USD sẽ yên tâm chuyển thành bạt và làm ăn trên đất Thái hơn mà không phải lo sau một năm bị tỷ giá làm hao mòn.
Chưa kể lãi suất tại Thái Lan vốn cao hơn ở Mỹ. Thái Lan để mức lãi suất từ năm 1990 đến 1996, dao động ở mức từ 8 đến 12%, trong khi ở Mỹ là từ 3 đến 6%. Nếu kết hợp thêm tỷ giá bằng 0, sẽ không bất ngờ khi một làn sóng các nhà đầu tư ở Mỹ vay USD với lãi suất 6%, sau đó đổi ra bạt rồi gửi tiền vào ngân hàng tại Thái Lan với mức lãi 12% và hưởng lãi suất chênh lệch từ hai quốc gia. Đó là cách mà Thái Lan và rất nhiều quốc gia trong khu vực vừa có thêm USD trong dự trữ ngoại hối, vừa có thêm tiền gửi để tạo ra nhiều room tín dụng cho người vay.
Nghe thì có vẻ là một công cụ giúp Thái Lan hưởng lợi, nhưng điều này lại tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Đầu tiên, ta phải giải quyết câu hỏi là làm sao để giữ tỷ giá ở một mức không đổi? Không thể nói suông rằng tỷ giá sẽ không đổi, vì giá trị của một đồng tiền trong hệ thống toàn cầu được quyết định bằng quy luật cung cầu. Hiểu đơn giản, nếu một đồng tiền được mua vào nhiều hơn trên thị trường ngoại hối, đồng tiền đó sẽ tăng giá trị và ngược lại. Dựa vào dòng chảy mua và bán trên thị trường ngoại hối như vậy, một đồng tiền có thể suy giảm tỷ giá nếu như có càng nhiều người không muốn cầm nó nữa.
Vậy ngân hàng trung ương Thái Lan sẽ phải làm gì để giữ được lời hứa với thế giới rằng bất kỳ ai cũng có thể đổi được 25 bạt từ 1 đô la? Cần lưu ý rằng ngân hàng trung ương cũng có thể được coi là một cá thể trong thị trường ngoại hối, cũng có khả năng mua và bán bất kỳ loại tiền tệ nào trên đó. Khi nhận thấy thị trường đang bán ra quá nhiều bạt và có nguy cơ ảnh hưởng suy giảm đến tỷ giá USD/B, Ngân hàng Trung ương sẽ bắt đầu mở két. Họ lấy USD trong dự trữ ngoại hối và bắt đầu mua lại một lượng bạt tương đương với lượng đã bị các bên khác bán ra. Nỗ lực của ngân hàng trung ương Thái Lan là làm cân bằng lượng bạt trong thị trường ngoại hối, giữ nó ở mức tương đương với tỷ giá 1 chia 25 như đã cam kết.
Sau một quy trình như vậy, lượng USD trong dự trữ tiền tệ của Thái Lan sẽ giảm xuống. Vì USD là ngoại tệ dự trữ, không có cách nào để ngân hàng trung ương Thái Lan có thể tự tạo ra thêm USD giống như đồng tiền nội địa như bạt. Điều này gây ra áp lực cực lớn vào kho dự trữ USD của Thái Lan. Không thể bán mãi USD để mua bạt nhằm cân bằng tỷ giá được. Thái Lan và các quốc gia khác có cùng cơ chế tương tự như Indonesia, Malaysia và Hàn Quốc phải chịu một hậu quả vô cùng nặng nề.
Nhưng trước khi đến được với hậu quả cuối cùng, hãy cùng đi sâu vào các hoạt động kinh tế bên trong Thái Lan để cùng nhau hiểu xem lượng vốn dồi dào từ nước ngoài đã được sử dụng như thế nào mà lại kéo đổ nền kinh tế khu vực khi nền kinh tế đi xuống. Để bắt đầu, hãy nhìn vào biểu đồ sau đây. Chú ý vào lĩnh vực tăng trưởng mỗi năm và lĩnh vực đi theo chiều hướng ngược lại. Ta thấy rằng các nhà đầu tư đã hướng sự chú ý vào bất động sản thay vì mảng công nghiệp tạo ra giá trị như ngành chế biến.
Vậy vì sao bất động sản lại là nguyên nhân cốt lõi và là thứ tài sản có thể gây ra nhiều vụ khủng hoảng khác như khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và khủng hoảng nhà đất Trung Quốc năm 2021? Đầu tiên, ta cần hiểu bất động sản hay đất đai là một trong bốn yếu tố quyết định khả năng sản xuất của nền kinh tế bên cạnh lao động, vốn và tinh thần kinh doanh. Thiếu một trong các yếu tố này, việc sản xuất nói chung và các hoạt động kinh tế của một quốc gia không thể vận hành. Nhưng hơn hết, bất động sản còn là thứ mọi con người cũng cần để ở trên hành tinh này. Cho nên, đất đai là một loại hình tài sản rất có ích cho xã hội và nền kinh tế.
Về tính chất tiếp theo, đất đai là loại hình tài sản không thể tái tạo theo lý thuyết kinh tế của nhà kênh thi học David Ricardo. Cụ thể, loại hình tài sản này là hữu hạn, tổng cung trong nền kinh tế là cố định theo thời gian và chỉ tăng giá theo tổng cung. Đó là lý do vì sao bất động sản thường tăng giá theo thời gian và được cộng hưởng từ sự gia tăng dân số qua từng năm. Đây cũng là nhân tố tự nhiên nhất làm đất đai tăng giá. Chính vì quan niệm đó mà đa phần những người chọn đầu tư bất động sản đều có tâm lý rằng đất chỉ có thể tăng chứ không hề giảm. Điều này tạo ra thêm một tâm lý nữa đó là tâm lý FOMO (sợ bỏ lỡ). Sợ rằng không mua bây giờ thì sẽ bỏ lỡ giá tốt và sau này sẽ phải mua với giá cao hơn.
Tuy nhiên, đằng sau những tính chất nghe có vẻ tốt đẹp trên còn là những mặt trái khác về loại hình tài sản này. Đầu tiên, vì bất động sản không được định giá dựa trên các quy tắc về chi phí và lao động như các loại hình tài sản khác như máy móc, công nghiệp. Gần như 100% việc giá đất là bao nhiêu, phụ thuộc vào câu chuyện bao nhiêu người muốn nó và muốn đến chừng nào. Đó là lý do vì sao bất động sản là loại hình tài sản bị đầu cơ sớm nhất trong nền kinh tế. Trong thời kỳ tăng trưởng nóng, một vòng lặp vô tận mang tên "nay mua mai bán cao hơn" liên tục xuất hiện. Người mua kỳ vọng rằng nếu mình mua trong hôm nay, trong thời điểm tăng trưởng nóng, ngày mai sẽ có người hỏi mua lại với giá cao hơn. Người mua lại cũng vì niềm tin tương tự khi chờ đợi các nhà đầu cơ khác đến hỏi giá và bán kiếm lời. Vòng lặp này giống như một chiếc ống bơm thổi vào nền kinh tế, nơi đồng tiền chạy ra chạy vào túi từng nhà đầu cơ liên tục nhưng không đem lại giá trị thực tế. Tất nhiên, đã là bong bóng thì chắc chắn nó có thể phát nổ bất kỳ lúc nào và để lại hàng tấn hậu quả.
Trong bài phỏng vấn Will Somandelis, trưởng phòng đầu tư của Công ty quản lý đầu tư Shoulders tại Úc, ông cho chúng ta biết về một khái niệm ứng dụng ở mảng đầu tư chứng khoán nhưng vẫn đúng với bất động sản được gọi là thanh khoản nhân tạo. Tiếng Anh là "artificial liquidity". Khác với thanh khoản tự nhiên (Natural Liquidity) được tạo ra bởi các quỹ đầu tư dài hạn và nhà đầu tư có chiến lược nền tảng dựa trên giá trị tiềm năng, thì thanh khoản nhân tạo được tạo ra bởi những nhà đầu cơ không dựa trên các phân tích cơ bản tiềm năng của tài sản mà chỉ quan tâm đến các con số chênh lệch giá kiếm lời từ những thương vụ cực kỳ ngắn hạn.
Không chỉ tạo ra sự méo mó về giá cả chung trong thị trường, những nhà đầu cơ tạo ra các thanh khoản nhân tạo này còn tạo ra các khoảng trống thanh khoản (liquidity vacuum) khi thị trường đi xuống. Từ khoảnh khắc nguội lạnh của thị trường, bất động sản bị mất phần lớn khả năng chuyển hóa thành tiền mặt. Các nhà đầu cơ phải ôm đất và chờ đợi trong đau đớn vì giá lúc này sẽ đi xuống từng ngày bởi nhu cầu không còn cao như thời điểm nóng. Đó là một sự phát nổ nhanh chóng của bong bóng mang tên bất động sản.
Không chỉ ở những nhà đầu cơ, các tổ chức tài chính cũng có phần gián tiếp rất lớn trong câu chuyện bơm thổi bong bóng. Nó dựa trên một đặc tính khác của bất động sản đó là tài sản này thuộc vào hàng có thể thế chấp. Dựa trên khả năng tăng giá, các ngân hàng rất thích việc nhà đầu cơ đi vay tiền mua đất và thế chấp bằng chính miếng đất mà họ tính mua vào trong hợp đồng cho vay. Vì cơ bản, ngân hàng có niềm tin với những người mua đất đó rằng đất sẽ luôn tăng giá trong tương lai, nên trong trường hợp người đi vay không thể trả được nợ thì miếng đất đó sẽ thuộc về ngân hàng.
Cũng chính vì lý do trên mà trong bối cảnh thị trường bất động sản của châu Á tăng trưởng nóng, không gian tín dụng dành cho mảng này cũng tăng lên cực kỳ đáng kể qua từng năm. Cụ thể, trong 5 năm từ 1990 đến 1995, tổng tín dụng bất động sản đã tăng 41% trong khi tổng tín dụng của nền kinh tế Thái chỉ tăng 33%. Con số tương tự cũng xuất hiện ở Indonesia với lần lượt mức tăng là 37% cho bất động sản và chỉ 22% tăng trưởng tổng tín dụng cho cả nước.
Đây là các yếu tố móc nối lẫn nhau bao gồm nhà đầu cơ vay, ngân hàng cho vay và nhận tài sản thế chấp bằng đất đai. Miễn là giá đất còn tăng thì nhà đầu cơ sẽ tiếp tục tham lam, ngân hàng vẫn sẽ tiếp tay cho sự tham lam đó, và cả hai đều tin rằng giá đất sẽ không giảm. Nhưng rồi, như bao cuộc khủng hoảng, có tăng trưởng thì ắt có suy thoái. Chỉ có một bất ngờ rằng khủng hoảng 1997 lại xảy ra nhanh đến vậy.
Khi bong bóng tiền tệ và bất động sản phát nổ, sau nhiều năm sống trong nhung lụa, sự hoài nghi bắt đầu hình thành trên những con số của các báo cáo kinh tế. Đầu tiên, đó là sự mất cân bằng vĩ mô bên trong các nền kinh tế. Thâm hụt tài khoản vãng lai hàng năm của các quốc gia châu Á liên tục tăng lên hàng năm, càng ngày càng chiếm tỉ trọng lớn trong nền kinh tế. Ví dụ như Thái Lan thâm hụt một lượng tương đương với 8% GDP vào cuối năm 1996, còn các quốc gia khác thì duy trì ở mức 4% đến 5% GDP. Con số thâm hụt trên chỉ ra rằng các quốc gia này đang sử dụng một cách phụ thuộc một lượng đáng kể tài nguyên nước ngoài, đó là các khoản vay ngắn hạn.
Ta có thể thấy, dù là những quốc gia rất hút đầu tư nước ngoài, khu vực Đông Á và Đông Nam Á lại gặp vấn đề lớn trong việc cân bằng các chỉ số về nợ khi nợ ngắn hạn của các quốc gia như Hàn Quốc, Thái Lan và Indonesia dao động từ 70 đến 34 tỷ đô trong quý 2 năm 1997. Nhưng điều quan trọng là tỉ lệ nợ phải thanh toán trong vòng dưới 1 năm và dự trữ ngoại hối từng quốc gia lại giữ ở mức trên 170% và cao nhất là 200%. Một vấn đề nữa đó là nợ nước ngoài thì phải trả bằng ngoại tệ. Nhưng xoay sở làm sao để con nợ trả cục nợ lớn hơn gấp hai lần số tiền mặt mà họ có? Đó là câu hỏi cực lớn mà các nhà đầu tư nước ngoài đặt ra khi nhìn vào khu vực này, đặc biệt là Thái Lan.
Chính phủ Thái Lan vẫn giữ lời hứa về tỷ giá cố định trong khoảng thời gian này. Nhiều nhà đầu tư bắt đầu đặt câu hỏi rằng liệu đồng bạt Thái có đang bị định giá quá cao so với khả năng thanh toán của Chính phủ. Theo bảng số liệu đang hiển thị, dù có để chính phủ lôi cả két sắt dự trữ ra trả nợ cho các chủ nợ nước ngoài, vẫn sẽ còn hơn 14 tỷ đô không thể thanh toán. Điều này như một tín hiệu cho thấy Thái Lan có thể vỡ nợ bất kỳ lúc nào.
Đó là lúc bảy ngày vỡ tổ. Tiếng xấu đồn xa khiến ai cũng sợ rằng nền tài chính của Thái Lan sẽ không thể giữ được lời hứa 25 bạt/USD nữa. Các nhà đầu tư bắt đầu tấn công đồng bạt Thái khi họ quyết định trả lại tiền cho ngân hàng trung ương Thái Lan để nhận về USD. 9 tỷ đô la Mỹ dự trữ ngoại tệ của ngân hàng Thái Lan đã bay màu để khỏa lấp cho các hành động bán bạt đổi USD.
Không chỉ bị tấn công trên thị trường trao đổi tiền tệ, Thái Lan còn bị kẹp cứng với hơn 23 tỷ đô cam kết hoán đổi theo kỳ hạn ngắn. Tức là cam kết rằng một lượng bạt tương đương với 23 tỷ đô sẽ được chuyển đổi sang ngoại tệ cho các nhà đầu tư trong thời gian dưới 1 năm. Không thể trụ nổi với đống áp lực trên dự trữ ngoại hối, ngân hàng trung ương quyết định tăng lãi suất lên trên 20% níu kéo nhà đầu tư đừng bán bạt nữa và giữ phần nào tỷ giá. Tuy nhiên, hành động cố gắng xoa dịu các nhà đầu tư nước ngoài lại gây ra sự khó khăn trong nội địa. Việc tăng lãi suất tương đương với tăng chi phí vay mượn và làm cản trở hoạt động vay vốn. Hậu quả là hàng loạt doanh nghiệp, công ty trong nước không thể vay tiền. Nhiều doanh nghiệp vỡ nợ và xa hơn là phá sản hàng loạt trước cả khi kịch bản tệ nhất kịp xảy đến. Hy sinh ống thở của doanh nghiệp trong nước cũng không thể giữ được các nhà đầu tư nước ngoài ở lại. Bạt vẫn cứ bị trả về đất Thái và USD cứ đi ra khỏi két của ngân hàng trung ương.
Cuối cùng, cú đánh chí mạng được tung ra không lâu sau đó. Ngày 2 tháng 5 năm 1997, ngày định mệnh của toàn bộ nền kinh tế khu vực xảy ra khi Thái Lan tuyên bố thả nổi tỷ giá đồng bạt. Vậy là chính phủ đã không thể giữ nổi lời hứa với các nhà đầu tư. Sự mất niềm tin trầm trọng dẫn đến tỷ giá đồng bạt cắm thẳng xuống mặt đất. Từ 25 bạt/USD, tỷ giá vào tháng 1 năm 1998, sau nửa năm thả nổi đã phi thẳng xuống đáy, từ 50 đến 56 bạt đổi lấy một USD.
Cú đánh đo ván trên thị trường tiền tệ quốc tế còn kéo theo sự mất niềm tin từ bên trong. Ai cũng biết rằng khi khủng hoảng xảy ra, điều đầu tiên người ta hướng đến đó là đi ra ngân hàng rút tiền hoặc đổi sang ngoại tệ để chuồn khỏi con tàu kinh tế sắp chìm. Như bao vụ rút tiền ồ ạt, ngân hàng chắc chắn không có khả năng giải quyết yêu cầu rút tiền gửi của khách hàng kịp thời. Điều đó dẫn đến sự sụp đổ ngay lập tức của hơn 58 công ty tài chính. Rất nhiều trong số đó sụp đổ chỉ vài tuần sau khi Thái Lan tuyên bố thả nổi đồng tiền của mình. Điều này cho thấy tâm lý bầy đàn khi có tin xấu nổ ra là khủng khiếp đến thế nào.
Và trong tình cảnh hỗn loạn như thế, các ngân hàng đang ôm rất nhiều bất động sản sẽ bắt đầu nhận những cú đấm đau điếng. Ngay lập tức, nhu cầu cho loại hình tài sản này sụt giảm trầm trọng. Giá bất động sản lao dốc xuống đáy, ngân hàng muốn bán lỗ còn khó vì khi này không còn ai muốn đầu cơ và tài sản đã bị thổi phồng. Ngân hàng có rất nhiều đất nhưng không thể bán. Số tài sản của họ đột nhiên cực kỳ tầm thường khi chẳng còn khả năng đổi ra tiền mặt nhằm thanh toán cho khách hàng gửi yêu cầu rút tiền. Từ đó, hiện tượng "bank run" xuất hiện. Người dân rút tiền ồ ạt khiến ngân hàng cạn kiệt dự trữ. Khủng hoảng ở Thái Lan trở thành cuộc khủng hoảng kép bao gồm sự sụp đổ về tiền tệ và ngân hàng, đồng thời dần lan rộng đến các quốc gia lân cận.
Tốc độ vốn đi vào trong những năm đầu thập niên 90 nhanh bao nhiêu thì sau khi tuyên bố phá giá đồng bạt, tốc độ rút vốn ra khỏi khu vực cũng nhanh không kém. Hơn 50 tỷ đô vốn tư nhân đã được rút ra khỏi năm quốc gia khu vực Đông Á và Đông Nam Á. GDP của các quốc gia này lao thẳng xuống đất và lún sâu vào tình trạng sụt giảm hai chữ số. Đặc biệt nhất là Thái Lan và Indonesia, giảm lần lượt 10% và 13% GDP trong năm 1998. Bởi các hậu quả của đảo chiều dòng vốn, sự mất niềm tin vào đồng tiền và sự sụp đổ của các doanh nghiệp, ngân hàng bắt đầu thấm vào nền kinh tế. Mọi chuyện đã vượt quá xa tầm kiểm soát của khu vực châu Á. Các quốc gia ảnh hưởng bởi khủng hoảng, không thể kìm hãm tốc độ tàn phá nền kinh tế. Họ buộc phải nhờ sự giúp đỡ đến từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) để cứu vãn tình hình.
Sự hỗ trợ của IMF và các tranh cãi xoay quanh cuộc khủng hoảng. Khi nhận thấy sự xói mòn trong hệ thống tài chính của nền kinh tế Đông Nam Á, tháng 8 năm 1997, IMF đã phải đưa ra chương trình cứu trợ, đặc biệt là năm quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất là Thái Lan, Hàn Quốc, Indonesia, Malaysia và Philippines. Trong hai năm liên tiếp, Quỹ Tiền tệ Thế giới đã đưa thẳng hơn 37 tỷ đô vào năm quốc gia này. Nhưng đi kèm với đó là các điều kiện cực kỳ ngặt nghèo.
Cụ thể hơn, với quy trình được IMF đưa ra, các quốc gia nhận viện trợ, đặc biệt là Thái Lan, sẽ phải thực hiện gói điều chỉnh cơ cấu. Đó là một chuỗi cải tổ trong công tác tài chính của nền kinh tế quốc gia, trong đó có một vài hoạt động đáng chú ý bao gồm thắt chặt chính sách tiền tệ, chính sách thắt lưng buộc bụng và mở cửa tự do thị trường.
Những điều này có hiệu quả hay không? Câu trả lời đáng tiếc là không. Sau một năm IMF đi vào cứu trợ Thái Lan, một số nhà kinh tế đã đánh giá rằng Quỹ Tiền tệ Quốc tế thậm chí còn phá tan và bóp chết nền kinh tế của Thái Lan sau khi yêu cầu quốc gia này thực hiện các chính sách nghèo nàn nhưng không hề phù hợp. Nói rằng không phù hợp vì đây là chuỗi những cải cách cũ kỹ được xây dựng dành cho một cuộc khủng hoảng khác diễn ra cách năm 1998 hơn 15 năm. Đó là khủng hoảng tại Mỹ Latinh đầu những năm 80.
Để tôi giới thiệu một chút về cuộc khủng hoảng này. Vấn đề trọng tâm trong sự kiện này đó là sự lạm chi của các chính phủ. Họ in tiền bừa bãi dẫn đến siêu lạm phát của các quốc gia Mỹ Latinh. Khi đối mặt với điều đó, IMF đưa ra một phác đồ điều trị rằng các quốc gia này cần phải thắt chặt chi tiêu để giảm tình trạng lạm chi và kéo lạm phát xuống bằng cách thắt chặt khả năng vay thêm tiền của nền kinh tế. Cuộc khủng hoảng khi đó phần nào được dập tắt nhưng di chứng để lại là cực kỳ nghiêm trọng bởi nền kinh tế Mỹ Latinh đã bị trì trệ một thời gian dài.
Nhìn sang trường hợp của Đông Nam Á, đặc biệt là Thái Lan, IMF bị chỉ trích là đã quá cứng nhắc khi sử dụng các phương pháp thắt chặt vốn không hề phù hợp với bối cảnh nền kinh tế. Cụ thể hơn, thì vấn đề của Thái Lan không phải là lạm phát hay lạm chi đến từ chính phủ, thậm chí là việc đồng tiền rớt giá trầm trọng cũng không phải vấn đề chính. Vấn đề lớn nhất nằm ở đống nợ nước ngoài đã và đang đáo hạn chưa được giải quyết.
Thay vì tìm cách trả nợ xoay vòng bằng đống tiền mà IMF đã cứu trợ, Quỹ Tiền tệ Thế giới lại yêu cầu Thái Lan phải tăng lãi suất, giảm chi tiêu công và bằng mọi cách giữ cho đồng tiền nội địa không rơi tự do trên thị trường. Hậu quả để lại là một tình trạng cận kề giảm phát. Có thể nhiều người sẽ thắc mắc rằng kết quả đầu ra mà IMF cho thấy trong nền kinh tế Thái Lan là tích cực khi lạm phát năm 1999 được kéo từ 8% của năm trước đó xuống 0,9%. Tuy nhiên, đằng sau con số đó là một hiện thực phơi bày sự yếu kém của IMF.
Ta thường quan niệm rằng lạm phát cao là xấu, còn lạm phát thấp là tốt cho nền kinh tế. Ngộ nhận đó thực ra chỉ đúng một nửa. Đúng là lạm phát cao mất kiểm soát sẽ rất có hại cho nền kinh tế và lạm phát vài phần trăm sẽ tương đối lành mạnh. Nhưng Thái Lan không hề đối mặt với lạm phát mất kiểm soát và mục tiêu để giải quyết không nên là thắt chặt chi tiêu. Đúng là Thái Lan đã gặp một cú tăng lãi suất vào năm 1998 trong bối cảnh đồng tiền của họ rớt giá nghiêm trọng dẫn đến việc nhập khẩu các loại hàng hóa như dầu mỏ và nhiên liệu trở nên đắt đỏ hơn. Đây là quy tắc cốt yếu của thương mại quốc tế khi giá trị của một đồng tiền nội địa bị giảm sẽ khiến nhập khẩu trở nên đắt đỏ hơn. Tuy nhiên, vấn đề của giá cả leo thang do nhập khẩu vốn không nghiêm trọng bằng sự suy sụp của nền kinh tế nội địa. Điều đúng ra phải được xử lý đầu tiên.
Khi yêu cầu tăng lãi suất và giảm chi tiêu công lại, nền kinh tế vốn đã ngập trong nợ, không thể vận hành khi chính sách tiền tệ trở nên khắt khe. Các tổ chức và công ty đang rơi vào cảnh nợ nần lại không thể vay thêm đồng nào khi lãi suất tiếp tục tăng cao. Hậu quả đầu tiên đó là sự sụp đổ của rất nhiều doanh nghiệp khi IMF đi vào nền kinh tế Thái Lan và gần 3 triệu người có nguy cơ thất nghiệp vào tháng 12 năm 1997. Từ sự sụp đổ hàng loạt đó, nền kinh tế trở nên cực kỳ trì trệ, người dân dè dặt chi tiêu hơn nên sản xuất cũng bị đóng băng. Từ đó, hàng hóa không được mua bán sôi động dẫn đến xu hướng giá cả tăng chậm đến gần như chững lại. Như vậy, tỷ lệ lạm phát dưới 1% của nền kinh tế Thái Lan cũng không phải là một chỉ báo tốt đẹp mà là hệ quả của rất nhiều sự sụp đổ của nền sản xuất, ít người còn giữ được việc làm hơn và từ đó cũng không ai chi tiêu nữa.
Với IMF, chương trình cứu trợ và giải quyết khủng hoảng này nhằm mục đích kéo lại niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài để họ trở lại đây. Tuy nhiên, số viện trợ chỉ bằng một nửa so với con số mà Thái Lan đang nợ thế giới. Điều này không thể đủ thuyết phục thị trường. Không chỉ vậy, hơn 10 tỷ đô mà IMF trao cho Thái Lan lại chỉ được nằm trong dự trữ ngoại hối bảo vệ tỷ giá đồng bạt chứ không được sử dụng với ý định tái cấu trúc và xoay vòng nợ lại cho hợp lý. Ai cũng nghĩ việc IMF làm chỉ là để vẽ nên vỏ bọc cho Thái Lan chứ khả năng giải quyết trong ngắn hạn bằng phương pháp đó là hoàn toàn không khả thi.
Bên cạnh các tranh cãi xoay quanh chương trình cứu trợ, IMF còn bị chỉ trích khi không quyết liệt chống lại các hoạt động đầu cơ mang tính khu vực như những gì đã xảy ra vào giai đoạn tăng trưởng nóng của thị trường bất động sản tại đây. Việc yêu cầu các quốc gia Đông Á và Đông Nam Á trước đó mở cửa nền kinh tế vào đầu những năm 90 nhưng không đi kèm các biện pháp bảo hộ đã khiến cho một thị trường tự do quá mức vận hành trệch hướng vì sự tham lam của những kẻ lướt sóng. Thị trường tự do còn dẫn đến một hành vi tiêu cực đến từ những người trục lợi từ khủng hoảng đó là bán khống tiền tệ. Hiểu đơn giản là họ vay bạt từ người khác rồi đổi lấy tiền đô. Sau khi đồng bạt tụt giá thảm hại thì họ quay ra đổi đô ra bạt nhưng với tỷ giá chỉ bằng một nửa so với trước kia nên họ có thể ăn chênh lệch từ những thương vụ đặt cược cho sự đi xuống của đồng bạt như vậy.
Sự dứt khoát và cứng rắn trong việc vực dậy nền kinh tế. Sau khi bị cuộc khủng hoảng hủy hoại, các quốc gia Đông Á và Đông Nam Á tự nhận thức được rằng đã đến lúc phải tự lực vực dậy nền kinh tế, huy động tất cả ngôn lực để vực lại sau vũng lầy.
Đối với Thái Lan, quốc gia khởi đầu cho cuộc khủng hoảng này, họ đã phải chịu đau khi chọn mất mát đi rất nhiều thứ trong nền kinh tế của mình. Hàng loạt tổ chức tài chính bị buộc cho phá sản vì hoạt động yếu kém. Rất nhiều tài sản quốc gia dưới dạng quyền sở hữu các công ty năng lượng, viễn thông quốc doanh được bán giá rẻ cho các nhà đầu tư nước ngoài để kiếm tiền trả nợ. Không những thế, việc đồng bạt rớt giá thê thảm đã trở thành cơ hội tốt để hàng hóa Thái Lan trở nên rẻ hơn bao giờ hết trên thị trường quốc tế. Nông nghiệp và lắp ráp điện tử trở thành ngành mũi nhọn để nền kinh tế có thể vận hành trở lại, đưa sản phẩm đi xuất khẩu và kiếm về ngoại tệ trả nợ. Từ ngưỡng một quốc gia có thâm hụt về thương mại cao trong những năm 90, Thái Lan giờ đây đã trở thành quốc gia đi đầu xuất khẩu một số loại mặt hàng như gạo và dần trở thành điểm đến hấp dẫn cho các quốc gia khác tiếp tục đầu tư nhà máy tại đây.
Không chỉ Thái Lan, mà Hàn Quốc cũng là một nạn nhân sa lầy trong đống nợ ngắn hạn của các nhà đầu tư quốc tế. Tận dụng lợi thế lớn từ các tập đoàn lớn gọi chung là các chaebol, Hàn Quốc dùng đây như trụ cột đưa vào các chính sách thúc đẩy kinh tế mạnh mẽ nhất để đưa đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng. Thậm chí, chính phủ Hàn còn rất sáng tạo khi kêu gọi người dân đổi vàng lấy won vào tháng 1 năm 1998. Nói đến hiệu quả tài chính trực tiếp của chiến dịch này thì nó chỉ tạo ra hơn 2 tỷ đô ngoại tệ cho Hàn Quốc để trả nợ cho IMF, con số chỉ tương đương 4% tổng nợ của Hàn Quốc với tổ chức này. Nhưng ở khía cạnh tinh thần, đây là một đòn tuyên truyền mạnh mẽ rằng hơn 3 triệu người Hàn Quốc sẽ chung tay sản xuất, thắt lưng buộc bụng cùng đất nước thay vì ôm khư khư đống vàng bên trong két sắt. Kết quả không chỉ là tỷ đô ngắn hạn, GDP của Hàn Quốc đã thật sự tăng vọt trở lại sau một năm từ con số âm lên thẳng tăng trưởng dương hai chữ số vào năm 1999.
Như vậy, cuộc khủng hoảng 1997 cho thấy các nền kinh tế đã học được những kinh nghiệm nhãn tiền khi quá chú trọng vào tỷ giá mà thiếu quan tâm đến cấu trúc nợ của nền kinh tế. Đó có lẽ là lý do mà đa phần các đồng tiền hiện nay được hoạt động dựa trên cơ chế thả nổi hoặc bán thả nổi. Việc này giúp cho giá trị của đồng tiền được vận hành đúng với quy luật cung cầu trên thị trường và không tạo ra áp lực quá lớn cho phần dự trữ ngoại hối so với các quốc gia cố gắng giữ tỷ giá bằng việc tác động đến việc mua vào bán ra.
Ngoài ra, khi nhắc đến các bài học về đầu cơ và khủng hoảng nợ, người ta thường lấy cuộc khủng hoảng này và khủng hoảng toàn cầu năm 2008 để minh họa cho những gì mà các nhà đầu cơ lướt sóng có thể làm xáo trộn thị trường mà không tạo ra được giá trị bền vững. Việc chống đầu cơ, bán khống và thao túng thị trường luôn là những mục tiêu quan trọng để các nhà thiết lập chính sách có thể tạo ra thị trường phát triển bền vững thay vì khuyến khích các hoạt động ăn xổi xảy ra tràn lan.
Không chỉ các quốc gia, các nhà hoạch định chính sách tại IMF cũng phải cải tổ rất nhiều khi chứng kiến bài học về sự thất bại của mình trong quá trình hỗ trợ châu Á. Khi bước sang thế kỷ mới, IMF dần dễ tính hơn trong câu chuyện cho vay, giúp các chính phủ giải quyết nợ công và tái cấu trúc nợ. Đồng thời, các hoạt động thắt lưng buộc bụng cũng ít được IMF đưa ra một cách cứng nhắc để tránh bóp nghẹt các nền kinh tế khác. Ví dụ như giai đoạn khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008, IMF đã kêu gọi khối G20 tăng chi tiêu công vào giai đoạn 2008-2009 để cứu vãn nền kinh tế rệu rã trên quy mô toàn cầu. Hay trong cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu năm 2010, IMF không đưa tiền kèm điều kiện ngặt nghèo vào tay các quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề như Hy Lạp, Bồ Đào Nha. Thay vào đó, họ chỉ đề ra các chương trình cứu trợ với yêu cầu nhẹ nhàng hơn để cho các quốc gia trên tự tìm hướng giải quyết và trả nợ đúng hạn cho tổ chức này.
Trên đây là toàn bộ bài viết của tác giả Lê Công Thành tại SProom. Các bạn nghĩ sao về những chia sẻ này? Hãy cùng để lại bình luận để bọn mình và tác giả cùng được biết thêm nhé. Hy vọng các bạn thích video lần này. Đừng quên like, share và subscribe ủng hộ kênh YouTube Spyroom nhé. Mình là V Đanh. Xin chào và hẹn gặp lại.