📱

Get Our Mobile App

Take your business learning on the go!

Download on the App StoreGet it on Google Play

Để ngăn chặn Trung Quốc, trật tự thế giới mới đã được Mỹ đã thiết lập ra sao? | Victor Pham

Spiderum39:23

Transcription

Sự vươn lên mạnh mẽ của Trung Quốc trong khoảng hai thập niên trở lại đây đã giúp đất nước này trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, chỉ sau Hoa Kỳ, với tỉ trọng xuất khẩu trên toàn cầu đạt mức kỷ lục. Hầu hết các nhà kinh tế học đều đưa ra nhận định rằng GDP của Trung Quốc có thể vượt qua Mỹ vào giai đoạn từ năm 2030 đến năm 2035.

Tuy nhiên, Joe Biden nắm quyền trong giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2024. Mọi chuyện bắt đầu có sự chuyển biến. Để đảm bảo vị trí cường quốc kinh tế số một thế giới của Mỹ, đã có một số chính sách được ông đưa ra khiến cho tình hình đảo chiều. Tỷ lệ GDP của Trung Quốc trong giai đoạn này so với Mỹ lần đầu tiên giảm rõ rệt kể từ năm 1980, từ 75% xuống còn 65%. Ngoài những chính sách cụ thể, một số mối quan hệ và các cuộc xung đột trên thế giới cũng khiến cho chuỗi cung ứng đứt gãy, gây thiệt hại đáng kể cho Trung Quốc.

Hóa ra những chính sách kìm hãm Trung Quốc từ phía Mỹ không chỉ xuất hiện rõ ràng trong nhiệm kỳ thứ hai của tổng thống Donald Trump thông qua thuế quan mà đã được âm thầm triển khai từ trước đó, đặc biệt là trong nhiệm kỳ của Tổng thống Joe Biden. Vậy kế hoạch tinh vi mà Mỹ đã chuẩn bị để kìm hãm Trung Quốc là gì? Hãy cùng tìm hiểu rõ hơn trong các nội dung tiếp theo sau đây đến từ bài viết của cây bút Victor Farm tại Spider Room.

Trước khi đến với video, Spider Room xin lưu ý với các khán thính giả rằng chúng mình quyết định lựa chọn chuyển thể bài viết này bởi nội dung và những góc nhìn độc đáo từ cây bút Victor Farm. Vì bài viết này bao gồm nhiều nhận định, chia sẻ và quan điểm cá nhân của tác giả, mong các bạn hãy tiếp nhận các nội dung được chia sẻ trong video với tinh thần cởi mở và sẵn sàng phản biện. Spiderom khuyến khích trân trọng những góp ý và phản biện hợp lý, lịch sự, mang tính xây dựng dưới phần bình luận của video này hoặc là trong bài viết gốc của tác giả tại website Spider Room nhằm đem đến cho cộng đồng những thông tin đa chiều nhất. Ngoài ra, đây cũng là một dịp phù hợp để nhìn lại cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc trong giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2024 nhằm rút ra một số nhận định cụ thể và chờ đợi những hành động tiếp theo của Tổng thống đương nhiệm Donald Trump. Nếu đã nắm được tinh thần, hãy cùng bắt đầu video ngay sau đây.

Tài nguyên là yếu tố quyết định đối với vận mệnh các đất nước. Xuyên suốt lịch sử văn minh nhân loại, phần lớn các cuộc chiến tranh giành quyền lực đều xoay quanh tài nguyên. Và để hiểu rõ cuộc đối đầu giữa các cường quốc, chúng ta phải nhìn từ góc độ tài nguyên. Yếu tố quyết định sức mạnh quốc gia trong cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, chủ yếu nhờ vào việc nắm giữ và khai thác trữ lượng than đá.

Vào thế kỷ thứ 19, để đạt được sự công nghiệp hóa, các quốc gia cần phải sở hữu than đá và sự phân bố dân số và tài nguyên cần phải đồng bộ. Nước Anh có thể dẫn đầu trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, chủ yếu nhờ vào phát hiện và khai thác trữ lượng than đá lớn ở miền Nam. Trước đó, châu Âu chủ yếu sử dụng gỗ làm nguồn năng lượng cho sưởi ấm và đóng tàu chiến. Tuy nhiên, khi việc khai thác rừng ngày càng gia tăng, nguồn cung gỗ ở Anh rơi vào tình trạng khan hiếm. Trong bối cảnh này, động cơ hơi nước chạy bằng than đá mới có điều kiện phát triển và được ứng dụng rộng rãi. Những thị trấn nhỏ như Manchester, Liverpool và Birmingham, nhờ có nguồn than dồi dào, đã nhanh chóng phát triển thành các trung tâm công nghiệp của châu Âu.

Trong khi đó, ở châu Âu thời cận đại, Phổ luôn là một trong những quốc gia nghèo nhất trong số các cường quốc. Đặc biệt là sau cuộc chiến tranh Napoleon, sức mạnh quốc gia tổng thể của Phổ bị suy yếu đáng kể và mức độ phát triển kinh tế không thể so sánh được với các nước như Pháp, Áo hay Hà Lan. Tuy nhiên, chỉ sau nửa thế kỷ, Phổ đã nhanh chóng vươn lên, đánh bại cả Pháp và Áo và nhanh chóng thành công trong việc thống nhất nước Đức. Nguyên nhân cốt lõi cho sự trỗi dậy của Phổ chính là việc phát hiện ra than đá ở vùng RF. Sự phát triển của khu vực này đã mang lại cho Phổ nguồn tài nguyên quan trọng giúp thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, từ đó tạo nền tảng cho sự bùng nổ kinh tế và quân sự, cho phép Phổ đánh bại các đối thủ mạnh như Pháp và Áo và cuối cùng là thống nhất được Đức.

Sản lượng than và sắt là yếu tố quyết định sức mạnh quốc gia trong cuộc cách mạng công nghiệp hóa lần thứ hai. Sau cuộc chiến tranh Pháp-Phổ, Đức đã cắt lấy vùng Alsace và Lorraine từ Pháp. Trong đó vùng Lorraine sở hữu trữ lượng sắt rất phong phú. Sự kết hợp giữa mỏ than vùng RF và mỏ sắt ở Lorraine đã tạo nên một sức mạnh công nghiệp to lớn cho Đức, giúp quốc gia này vượt qua Anh trong vòng chưa đầy 40 năm trở thành cường quốc kinh tế hàng đầu châu Âu. Trên thực tế, trong thời kỳ cách mạng công nghiệp lần thứ hai, ngoài Đức chỉ có một quốc gia phương Tây khác cũng sở hữu cả nguồn tài nguyên sắt và than phong phú, đó chính là Hoa Kỳ. Mỹ đã tận dụng tốt các nguồn tài nguyên này để phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng vươn lên trở thành một siêu cường công nghiệp trên toàn cầu. Sự dồi rào về than đá đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy các quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa của cả Đức và Mỹ, giúp cho họ trở thành các cường quốc kinh tế và quân sự trong thế kỷ thứ 19 và 20.

Khi mới thành lập, Hoa Kỳ là một quốc gia nông nghiệp. So với các cường quốc châu Âu thì ngành công nghiệp sản xuất của họ không có khả năng cạnh tranh. Do đó, Mỹ phải áp dụng chính sách bảo hộ thương mại. Tuy nhiên, vào giữa thế kỷ thứ 19, Mỹ đã phát hiện ra các mỏ than và sắt phong phú ở khu vực Ngũ Đại Hồ, The Great Lakes. Điều này đã khởi đầu cho một giai đoạn công nghiệp hóa nhanh chóng với sự phát triển mạnh mẽ của các thành phố như Detroit, Chicago và Pittsburg. Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng hóa vùng Great Lakes, Hoa Kỳ đặc biệt xây dựng kênh đào Erie để nối liền Great Lakes với cả Đại Tây Dương. Cửa ngõ của nó là New York, một trong những thành phố lớn nhất thế giới hiện nay.

Ngược lại, nước Anh mặc dù có trữ lượng than đá dồi dào nhưng lại thiếu đi quặng sắt. Pháp thì không có cả than và quặng sắt, buộc phải nhập khẩu nguyên liệu từ các vùng thuộc địa với chi phí cao. Vào thời kỳ cận đại, chi phí vận chuyển đường biển là rất đắt đỏ. Việc nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài tốn kém hơn nhiều so với chi phí khai thác tài nguyên ở trong nước. Điều này rõ ràng đã hạn chế tốc độ công nghiệp hóa của Anh và Pháp. Trong nửa cuối thế kỷ thứ 19, Mỹ và Đức dần vượt qua các cường quốc cũ như Anh và Pháp về mặt kinh tế.

Mỏ than Donbass trở thành mỏ vàng đầu tiên cho quá trình công nghiệp hóa của Nga. Tại Nga, một lượng lớn than và lượng nhỏ quặng sắt đã được phát hiện ở vùng Donbass, miền Đông Ukraina. Điều này đã khiến các vị sa hoàng Nga vô cùng vui mừng. Tuy nhiên, khác với Mỹ và Đức, trung tâm tài nguyên của Nga không trùng với cả trung tâm dân số của nước này. Điều này đã khiến quá trình công nghiệp hóa của Nga diễn ra rất chậm. Để bù đắp sự thiếu hụt lao động, các sa hoàng đã huy động một số lượng lớn công nhân từ Nga đến Ukraina để khai thác mỏ.

Vào cuối thế kỷ thứ 19, sản lượng thép trở thành chỉ số quan trọng nhất để đo lường sức mạnh quốc gia. Thép là nguyên liệu cần thiết cho máy bay, pháo và tàu chiến và Đức có thể dám khiêu chiến trong chiến tranh thế giới thứ nhất là vì sản lượng thép của họ vượt tổng sản lượng của Anh, Pháp và Nga. Mặt khác, vào thời điểm đó, bốn quốc gia có sản lượng công nghiệp cao nhất thế giới lúc bấy giờ là Mỹ, Đức, Anh và Nga hoàn toàn phù hợp với trữ lượng tài nguyên của mình. Cho thấy rằng trữ lượng tài nguyên quyết định sức mạnh quốc gia.

Trong thời kỳ công nghiệp hóa đầu thế kỷ 20, dầu mỏ là tài nguyên quan trọng quyết định vận mệnh quốc gia. Đến thế kỷ thứ 20, để đạt được công nghiệp hóa, không chỉ cần than đá và quặng sắt mà còn cần dầu mỏ. Bản chất lý do tại sao Đức và Nhật Bản phát động thế chiến thứ hai để có được tài nguyên. Đức quan tâm đến dầu mỏ ở vùng Caucasus và quặng sắt ở Thụy Điển trong khi Nhật Bản nhắm đến dầu mỏ ở Đông Nam Á và than sắt ở Đông Bắc, Trung Quốc.

Một lý do rất quan trọng giải thích tại sao Liên Xô có thể công nghiệp hóa nhanh chóng vào những năm 1930 là nhờ vào việc thăm dò dầu mỏ ở chính Liên Xô. Với các mỏ dầu Baku ở Caucasus và sự chuyển giao công nghệ từ Mỹ, Liên Xô đã phát triển từ một nước nông nghiệp trở thành một nước công nghiệp, thay thế, trở thành nền kinh tế lớn nhất châu Âu. Vào năm 1939, sản lượng dầu mỏ của Liên Xô đạt 30 triệu tấn, đứng thứ hai thế giới, vượt qua tổng sản lượng dầu của châu Âu. Vậy ai là số một thế giới? Nước đứng đầu thế giới về sản lượng dầu mỏ lúc bấy giờ là Mỹ với sản lượng 170 triệu tấn, chiếm một nửa tổng sản lượng toàn cầu. Sự dồi rào về dầu mỏ đã giúp Mỹ chiếm 38% sản lượng công nghiệp toàn cầu. Sự chuyển mình này cho thấy trong khi Trung Quốc phát triển nền văn minh nông nghiệp tiên tiến thì Mỹ với tài nguyên phong phú đã tận dụng cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai. Do rất nhiều yếu tố khác nhau, Trung Quốc đã gặp khó khăn trong công nghiệp hóa. Trong khi Mỹ với tài nguyên đa dạng đã nhanh chóng trở thành trung tâm công nghiệp. Về phần châu Âu, mặc dù có trữ lượng than đá và quặng sắt phong phú, nhưng việc thiếu dầu mỏ đã khiến sản lượng công nghiệp của châu Âu bị Mỹ và Liên Xô vượt qua. Sự suy giảm sức mạnh kinh tế đã dẫn đến sự giảm sút trong vị thế ngoại giao, tạo điều kiện cho sự phụ thuộc vào Mỹ và Liên Xô sau này.

Trong thời kỳ thuộc địa, do chi phí vận chuyển đường biển cao và bảo hộ thương mại khu vực, các quốc gia phụ thuộc vào nhiều tài nguyên nội địa để phát triển công nghiệp. Điều này cho thấy tài nguyên là yếu tố quyết định vận mệnh quốc gia và sức mạnh tổng hợp của một quốc gia phụ thuộc vào cả số lượng người dân được giáo dục và trữ lượng tài nguyên khoáng sản.

Tài nguyên và vị thế ban đầu của Trung Quốc. Trung Quốc mặc dù có nhiều quặng sắt nhưng phần lớn là quặng nghèo với chất lượng thấp và chi phí khai thác cao. Khu vực duy nhất có nguồn tài nguyên phong phú là Đông Bắc Trung Quốc. Nơi đây còn có đất đen màu mỡ được xem là kho lương thực thực sự của Trung Quốc. Vào những năm 1960, Đông Bắc còn phát hiện ra dầu mỏ, giải quyết vấn đề khủng hoảng dầu của Trung Quốc. Nói chung, Đông Bắc là khu vực tài nguyên phong phú nhất của Trung Quốc với các nguồn tài nguyên chiến lược như than đá, quặng sắt, dầu mỏ và lương thực. Đây cũng là lý do tại sao Nhật Bản và Nga đã từng tranh giành kịch liệt để kiểm soát ở khu vực Đông Bắc của Trung Quốc.

Đối với Nhật Bản, mặc dù khí hậu ở Đông Bắc khá lạnh nhưng khu vực này chứa các khoáng sản cần thiết cho công nghiệp hóa, có giá trị chiến lược hơn nhiều so với các khu vực khác. Sau cuộc chiến tranh Nga-Nhật, Bắc Mãn Châu bị Nga chiếm đóng trong khi Nam Mãn Châu bị Nhật Bản kiểm soát. Đông Bắc về mặt danh nghĩa vẫn thuộc về Trung Quốc nhưng thực tế đã bị chia cắt giữa Nhật và Nga. Từ xưa, Nhật Bản luôn mong muốn chinh phục lục địa Đông Á. Tuy nhiên, do thiếu quặng sắt và ngựa, Nhật Bản đã luôn gặp bất lợi trước Trung Quốc trong hàng nghìn năm trước của cách mạng công nghiệp và chưa bao giờ giành chiến thắng. Trong thời kỳ cổ đại, do thiếu tài nguyên sắt, nhiều binh sĩ cấp thấp ở Nhật Bản chỉ có thể mặc giáp gỗ.

Sau cuộc cách mạng công nghiệp, Nhật Bản đã tận dụng cơ hội khi Trung Quốc triều Thanh suy yếu và thông qua chiến tranh Trung-Nhật (1894-1895) đã thay thế Trung Quốc để trở thành trung tâm địa chính trị của Đông Á. Sau cách mạng Tân Hợi, Nhật Bản đã triển khai một chiến lược tàn khốc để ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc bằng cách cắt đứt nguồn cung cấp quặng sắt, qua đó khóa chặt quá trình công nghiệp hóa của Trung Quốc. Vào năm 1915, Nhật Bản đã lợi dụng tình hình chiến tranh thế giới và sự thiếu quan tâm của các cường quốc phương Tây để ép buộc chính phủ của Viên Thế Khải ký kết 21 điều khoản, trong đó có các điều khoản quan trọng: Trung Quốc đồng ý chuyển quyền khai thác quặng ở Đông Bắc cho Nhật Bản, cho phép Nhật Bản xây dựng đường sắt ở Đông Bắc để kết nối các mỏ quặng lớn; cải tổ công ty Than và sắt Heping, nhà máy thép lớn nhất Trung Quốc thành công ty liên doanh Trung-Nhật và bị Nhật Bản kiểm soát. Đối với các quan chức Bắc Dương thời đó, việc đồng ý những điều khoản này chỉ là mất mát một chút về lợi ích kinh tế và ảnh hưởng có thể kiểm soát được. Tuy nhiên, quyết định này đã mang lại hậu quả nghiêm trọng cho Trung Quốc.

Sau khi quyền khai thác mỏ ở Đông Bắc bị chuyển giao cho Nhật Bản, Trung Quốc đã mất đi cơ sở sản xuất quặng quan trọng nhất. Nhật Bản thậm chí không để lại cho Trung Quốc một chút tài nguyên nào. Công ty than và sắt Heping đã bị Nhật Bản kiểm soát và trở thành nhà cung cấp quặng sắt cho nhà máy sắt Yawata của Nhật Bản. Kể từ đó, khả năng sản xuất thép của Trung Quốc đã bị trì trệ trong suốt 30 năm và quá trình công nghiệp hóa của Trung Quốc bị đóng băng trong một thời gian dài. Vào năm 1914, Trung Quốc sản xuất khoảng 60.000 tấn thép mỗi năm, chủ yếu từ công ty Than và sắt Heping. Đến năm 1934, sau khi Nhật Bản cắt đứt nguồn cung cấp quặng sắt, sản lượng thép của Trung Quốc đã giảm xuống còn 50.000 tấn mỗi năm. Chính quyền dân quốc Đảng nhận thức rõ tầm quan trọng của công nghiệp nặng. Nhưng trong bối cảnh bị phong tỏa quặng sắt, mọi nỗ lực đều trở nên vô ích. Mặc dù phong trào Dương Vụ vận động cuối triều Thanh đã có những nỗ lực trong việc phát triển công nghiệp nặng, nhưng với sự thiếu hụt quặng sắt, Trung Quốc chỉ có thể phát triển công nghiệp nhẹ và phụ thuộc vào xuất khẩu hàng dệt để kiếm tiền, giữ nền kinh tế trong trạng thái nông nghiệp. Chỉ có tỉnh Sơn Tây dưới sự cai trị của Diêm Tích Sơn là có nguồn than đá phong phú, do đó phát triển thành mẫu tỉnh.

Ngược lại, Nhật Bản sau khi chiếm quyền kiểm soát khai thác quặng ở Đông Bắc đã có được nguồn tài nguyên cần thiết cho công nghiệp hóa, giúp sức mạnh của quốc gia họ được tăng trưởng nhanh chóng. Chính vì vậy, Nhật Bản đã đề xuất chính sách Mãn Châu Quốc và coi vùng Đông Bắc là lợi ích cốt lõi. Sau sự kiện Phụng Thiên 918, Nhật Bản đã hoàn toàn kiểm soát tài nguyên khoáng sản Đông Bắc, giúp sản lượng thép của Nhật Bản tăng gấp ba lần. Điều này đã giúp Nhật Bản phục hồi từ cuộc đại suy thoái và kích thích tham vọng mở rộng của họ. Sau khi Nhật Bản thất bại trong chiến tranh, Đông Bắc, Trung Quốc với tài nguyên phong phú đã trở thành khu vực công nghiệp hàng đầu châu Á. Với tài nguyên tại vùng Đông Bắc và công nghệ do Liên Xô cung cấp, sản lượng thép của Trung Quốc đã từ 40.000 tấn vào năm 1948, tăng lên 8 triệu tấn vào năm 1958, đánh dấu bước đầu tiên trong công nghiệp hóa. Tuy nhiên, vào năm 1960, tốc độ tăng trưởng công nghiệp của Trung Quốc đã chậm lại bởi vì sản lượng tài nguyên Đông Bắc chỉ đủ cho một quy mô công nghiệp hạn chế. Ví dụ, mỏ dầu Đại Khánh chỉ sản xuất được 30 triệu tấn dầu mỗi năm, đủ cho một tỉnh nhưng không đủ cho một quốc gia lớn.

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, hệ thống thuộc địa do Anh và Pháp dẫn đầu đã sụp đổ, thay vào đó là hệ thống thương mại tự do do Mỹ lãnh đạo. Đức và Nhật Bản, hai quốc gia thiếu tài nguyên đã được hưởng lợi từ điều này. Trước đó, Đức và Nhật Bản đã gây ra những cuộc chiến tranh tàn khốc để cướp đoạt tài nguyên dầu mỏ, gây ra thảm họa lớn cho nhân loại. Tuy nhiên, sau khi chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhờ tham gia vào hệ thống toàn cầu hóa do Mỹ thiết kế, Đức và Nhật Bản đã có thể nhập khẩu khoáng sản từ các quốc gia châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh với chi phí thấp, thoát khỏi tình trạng bị nghẹt thở bởi tài nguyên.

Container và tự do thương mại đã thay đổi số phận đói nghèo ở Đông Á. Sau khi container ra đời, chi phí bốc dỡ hàng tại cảng giảm mạnh. Chi phí vận tải biển được giảm xuống chỉ còn 1/30 so với vận tải đường bộ. Điều này đã thay đổi vận mệnh của Đông Á. Là khu vực gió mùa, Đông Á mặc dù có mật độ dân số cao nhưng mà tài nguyên khoáng sản lại cực kỳ khan hiếm. Trong thời kỳ thuộc địa, do các phe phái bị chia rẽ, chi phí vận tải biển cao, sự bất lợi về tài nguyên của Đông Á bị khuếch đại lên vô tận, dẫn đến tình trạng nghèo đói kéo dài. Trong thời đại toàn cầu hóa, với việc thuế quan và chi phí vận tải biển giảm, Đông Á có nhiều cảng nước sâu có thể nhập khẩu tài nguyên từ nước ngoài về với giá rẻ, vượt qua được nút thắt về sự thiếu hụt tài nguyên.

Trong những năm 50 đến 60 của thế kỷ trước, theo kế hoạch của Mỹ, thương mại toàn cầu được tự do hóa và đồng đô la Mỹ với tư cách là đồng tiền thanh toán quốc tế được liên kết với vàng. Trung Đông, châu Phi và Mỹ Latinh đều được định hình là các quốc gia cung cấp tài nguyên và chịu trách nhiệm sản xuất nguyên liệu thô. Châu Âu và Mỹ trở thành trung tâm chuỗi giá trị toàn cầu, sản xuất sản phẩm có giá trị tăng cao, xuất khẩu thương hiệu và công nghệ. Đông Á với nguồn lao động dồi dào được định hình là cơ sở sản xuất, trong đó Nhật Bản chịu trách nhiệm sản xuất các sản phẩm tầm trung. Còn bốn con hổ Đông Á bao gồm Hồng Kông, Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan sẽ sản xuất các sản phẩm thấp cấp. Còn Trung Quốc và Liên Xô bị loại khỏi hệ thống thương mại tự do và bị cô lập khỏi quá trình toàn cầu hóa.

Tuy nhiên, hệ thống này gặp vấn đề vào những năm 70. Một mặt, tổ chức các nước nhập khẩu dầu OPEC hợp tác với nhau để thực hiện cấm vận đối với phương Tây khiến cho chi phí năng lượng tăng vọt. Mặt khác, với tư cách là bên sản xuất, Nhật Bản và bốn con hổ Đông Á có mật độ dân số thấp hơn nhiều so với phương Tây. Các sản phẩm của Đông Á không thể đáp ứng được nhu cầu của phương Tây khiến cho thế giới phương Tây rơi vào tình trạng lạm phát nghiêm trọng với việc giá năng lượng tăng vọt và mức lương cũng tăng cao chóng mặt. Để giải quyết cuộc khủng hoảng lạm phát đình trệ, Mỹ đã phải sử dụng cuộc cách mạng Iran để thu hút các quốc gia vùng vịnh như Saudi Arabia bằng cách cung cấp đảm bảo an ninh để đổi lấy việc sử dụng đồng đô la để thanh toán dầu mỏ và phân hóa trong các phe OPEC để đẩy giá dầu xuống. Đến những năm 1980, phe tăng sản lượng do Ả Rập Saudi đại diện đã áp đảo phe cắt giảm sản xuất do Iraq đại diện giúp giảm bớt tình trạng thiếu hụt năng lượng toàn cầu.

[âm nhạc]

Mặt khác, để giải quyết các vấn đề chi phí lao động tăng cao, Mỹ quyết định mở thêm các nhà máy gia công mới. Trong những năm 1980, Ấn Độ thuộc khối Xô Viết, Việt Nam vừa kết thúc chiến tranh với Mỹ, hai bên còn nhiều thù hận. Trên toàn thế giới chỉ có một quốc gia dân số đông, tài nguyên khoáng sản khan hiếm, bờ biển dài và có quan hệ tốt với phương Tây, đó là Trung Quốc. Theo đánh giá của các doanh nghiệp Mỹ, công nhân Trung Quốc làm việc rất chăm chỉ, chịu đựng. Một công nhân Trung Quốc có cường độ công việc tương đương với cả năm công nhân Mỹ. Vì vậy, Mỹ quyết định mở cửa cho thị trường Trung Quốc, đưa Trung Quốc vào vòng tròn phân công lao động quốc tế.

Sự trỗi dậy của Trung Quốc. Sau khi hội nhập vào hệ thống thương mại tự do do Hoa Kỳ dẫn đầu, Trung Quốc đã giải quyết được nhược điểm về thiếu hụt tài nguyên. Với công nghệ của phương Tây, tài nguyên từ châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh và lực lượng lao động dồi dào ở trong nước, nền kinh tế Trung Quốc nhanh chóng phát triển, đặc biệt là các khu vực ven biển và ven sông đã trở thành những khu vực hưởng lợi nhất trong việc mở cửa với thế giới bên ngoài. Có một số lượng lớn các cảng nước sâu ở vùng biển phía Nam có thể tiếp nhận các tàu khổng lồ 300.000 tấn. Sau khi phát minh ra container, lợi thế vận chuyển của Trung Quốc đã nổi lên và nước này có thể nhập khẩu tài nguyên khoáng sản với chi phí thấp hơn. Đối với khu vực ven biển Đông Nam Trung Quốc, trước khi mở cửa với thế giới bên ngoài do thiếu tài nguyên khoáng sản nên chi phí phát triển công nghiệp hiện đại rất cao. Sau khi hội nhập hệ thống thương mại tự do, với chi phí vận chuyển thấp, bờ biển phía Đông Nam đã gần hơn đáng kể so với thị trường và nguồn tài nguyên đạt tốc độ tăng trưởng cực cao. Ngược lại, các thành phố dựa vào tài nguyên ban đầu ở vùng Đông Bắc và Bắc Trung Quốc đang dần suy giảm do chi phí khai thác và vận chuyển cao hơn so với nước ngoài.

Nhưng nhìn chung, sự trỗi dậy của nền kinh tế Trung Quốc có thể được chia thành hai giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên là từ những năm 1980 đến năm 1990. Trong thời kỳ đó, Trung Quốc mặc dù có nhiều lao động nhưng trình độ giáo dục bình quân thấp nên chủ yếu đảm nhận các ngành công nghiệp thấp cấp như dệt may. Nhiều doanh nghiệp ở các thị trấn của Giang Tô, Triết Giang và Quảng Đông xuất khẩu quần áo đến châu Âu và Mỹ, kiếm lợi nhuận rất thấp bằng cách gia công nguyên liệu. Thời kỳ đó, do giá trị gia tăng thấp, chỉ có thể đổi 800 triệu chiếc áo sơ mi lấy một chiếc máy bay Boeing. Giai đoạn thứ hai là những năm 2000 đến năm 2010, khi sự phổ biến của máy tính đã thay…

Đổi vận mệnh của Trung Quốc. Trước những năm 2000, ngưỡng để tham gia vào ngành chế tạo trung cấp rất cao, chỉ những kỹ sư đã qua đào tạo về khoa học và kỹ thuật mới có thể làm việc ở trong lĩnh vực này. Nhưng với sự tiến bộ trong công nghệ bán dẫn, máy tính đã được đưa vào quy trình sản xuất từ những năm 1990 và ngưỡng sản xuất tầm trung đã giảm đáng kể. Nhiều nhiệm vụ khó khăn được chia sẻ bởi máy tính và công nhân chỉ cần có trình độ học vấn trung học trở lên vẫn có thể hiểu được hướng dẫn sử dụng.

Vào năm 2001, tận dụng cơ hội gia nhập WTO, Trung Quốc đã tiếp nhận một lượng lớn ngành chế tạo trung cấp từ nước ngoài; các ngành công nghiệp như là thép, hóa chất, kim loại màu, đóng tàu, ô tô và máy công cụ nhanh chóng phát triển, tạo nền tảng cho vị thế của Trung Quốc như là một công xưởng của thế giới. Ngược lại, từ những năm 1980, Mỹ đã dần dần từ bỏ các ngành công nghiệp chung và thấp cấp, tỉ trọng ngành chế tạo trong toàn cầu giảm rõ rệt, mất đi vị thế là công xưởng của thế giới. Tuy nhiên, Mỹ vẫn duy trì hoặc thậm chí là nâng cao được quyền lực kiểm soát nền kinh tế toàn cầu bởi nước này đã đặt ra các quy tắc thương mại quốc tế và quyết định mối liên kết giữa các quốc gia trong phân công lao động quốc tế.

Theo thiết kế của Mỹ, thế giới có ba loại nền kinh tế. Thứ nhất là các quốc gia tiêu thụ như là Châu Âu và Mỹ, chủ yếu xuất khẩu tiền tệ, thương hiệu và công nghệ với thu nhập bình quân trên đầu người là 40.000 đô. Thứ hai là các quốc gia tài nguyên ở châu Á, châu Phi và Mỹ La Tinh. Mức sống của họ tỉ lệ thuận với sản lượng tài nguyên khoáng sản. Thứ ba là các quốc gia sản xuất như là Đông Á. Mức độ giàu có của họ liên quan đến vị trí trong hệ thống phân công lao động thế giới. Sở dĩ Mỹ tự tin chuyển giao ngành sản xuất sang Đông Á vì Đông Á có dân số rất đông nhưng mà tài nguyên lại rất thiếu nên dễ dàng bị kiểm soát. Chỉ cần hàng hóa toàn cầu được thanh toán bằng đô la thì Mỹ có thể kiểm soát được mạch máu kinh tế của Đông Á.

Các nước Đông Á có nhiều người hơn và ít khoáng sản. Nếu họ muốn nhập khẩu các nguồn tài nguyên cần thiết cho công nghiệp hóa từ nước ngoài, họ phải trả bằng đô la Mỹ. Họ chỉ có thể áp dụng nền kinh tế định hướng xuất khẩu. Nước này giới thiệu vốn và công nghệ từ phương Tây thông qua xúc tiến đầu tư, sau đó nhập khẩu tài nguyên khoáng sản từ Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh, lắp giáp, chế biến và sản xuất hàng hóa giá rẻ sang châu Âu và châu Mỹ để thu ngoại tệ. Một phần lớn lợi nhuận được chia sẻ cho các công ty nước ngoài. Phần lớn còn lại tiếp tục được dùng để nhập khẩu các nguồn lực nhằm mở rộng tái sản xuất, hình thành một chu kỳ kinh tế. Nền kinh tế định hướng xuất khẩu của Đông Á dựa vào lao động giá rẻ để đổi lấy nguồn tài nguyên nước ngoài. Thay vì gọi là công xưởng của thế giới, nó nên được gọi là xưởng gia công của thế giới. Vì phần lớn thu nhập là từ phí gia công, đều là tiền làm việc vật vả.

Ngược lại, Mỹ không dám chuyển ngành chế tạo đến các quốc gia như là Brazil hay là Argentina vì những quốc gia này có nguồn tài nguyên tương đối phong phú. Nếu phát triển ngành chế tạo lớn, mức độ phụ thuộc vào nhập khẩu sẽ không cao và nhu cầu về đô la sẽ thấp hơn nhiều so với Đông Á khiến cho Mỹ khó kiểm soát được. Mỹ thiên về việc chuyển ngành chế tạo đến các quốc gia như là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam và Ấn Độ. Sự khan hiếm tài nguyên quân bình đầu người là tình trạng quốc gia lớn nhất của Trung Quốc. Mọi quyết định đều cần phải tính đến tình trạng thực tế này nếu không dễ đánh giá quá cao lợi thế của Trung Quốc.

Trung Quốc có tổng sản lượng không quá thấp. Nếu nước này chỉ có 100 triệu người thì tài nguyên có thể tự cung tự cấp. Nhưng với 1,4 tỷ người, phần lớn tài nguyên phụ thuộc vào nhập khẩu. Trung Quốc xuất khẩu khoảng 1 tỷ tấn thép mỗi năm, là quốc gia sản xuất thép lớn nhất thế giới. Để làm được điều này, Trung Quốc phải nhập khẩu 1,1 tỷ tấn quặng mỗi năm, chiếm 72% tổng sản lượng quặng sắt nhập khẩu toàn cầu. Không chỉ vậy, Trung Quốc còn phải nhập khẩu 500 triệu tấn dầu thô, 1500 tỷ m khối khí tự nhiên, 300 triệu tấn than, 25 triệu tấn đồng và 16 triệu tấn lương thực mỗi năm. Có thể nói nguồn tài nguyên nhập khẩu khổng lồ đã trở thành nền tảng hỗ trợ cho hệ thống công nghiệp lớn nhất thế giới. Nếu không có nguồn lực nhập khẩu từ nước ngoài, các nhà máy chỉ có thể đóng cửa, công nhân sẽ thất nghiệp và trình độ công nghiệp hóa có thể bị thụt lùi lại trong nhiều thập kỷ.

Đối với các quốc gia Đông Á, tầm quan trọng của nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu. Hoặc nói cách khác, mục đích của xuất khẩu là để kiếm ngoại tệ nhằm đảm bảo nhập khẩu. Trong thời kỳ thiếu ngoại tệ, chỉ có thể duy trì khả năng nhập khẩu bằng cách đánh giá cao giá trị đồng tiền nội tệ. Một lý do rất quan trọng khiến Trung Quốc có đủ ăn vào sau những năm 1970, là nước này đã tiếp thu được công nghệ sản xuất phân bón và nguồn cung cấp dầu mỏ của phương Tây từ Trung Đông. Sự chăm chỉ của người Đông Á là một sự lựa chọn bất đắc dĩ vì tài nguyên khoáng sản khan hiếm, không thể nằm nghỉ như người Mỹ La Tinh. Đối với các quốc gia Đông Á, nếu xảy ra tình trạng thâm hụt thương mại kéo dài, khả năng nhập khẩu tài nguyên sẽ giảm, kinh tế sẽ bị ảnh hưởng. Không chỉ vậy, đối với Trung Quốc, thặng dư ngoại tệ không chỉ giúp đảm bảo nhập khẩu mà còn giúp ổn định tỉ giá. Khi các doanh nghiệp xuất khẩu quy đổi ngoại tệ, Ngân hàng Trung ương sẽ điều chỉnh lượng tiền tệ, tạo ra dự trữ ngoại tệ. Phần lớn tiền tệ cơ sở của Trung Quốc là dự trữ ngoại tệ. Các ngân hàng thương mại dựa vào tiền tệ cơ sở để phát hành tiền. Điều này tương đương với việc liên kết gián tiếp với tín dụng đô la. Đây cũng là một trong những lý do khiến cho biên độ biến động của tỷ giá nhân dân tệ thấp hơn so với hầu hết các đồng tiền khác.

Nếu nói từ năm 1980 đến năm 2000, nền kinh tế Trung Quốc chủ yếu được thúc đẩy bởi xuất khẩu và đẩy mạnh công nghiệp hóa thông qua các phương pháp luân chuyển cao như là chế biến nguyên liệu cung ứng. Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, nhu cầu từ Châu Âu và Mỹ giảm mạnh. Để ngăn chặn tình trạng dư thừa công suất và hỗ trợ chu kỳ kinh tế, Trung Quốc đã sử dụng bất động sản và cơ sở hạ tầng làm điểm khởi đầu để kích thích tăng trưởng kinh tế. Bất cứ khi nào xuất khẩu kém, bất động sản và cơ sở hạ tầng sẽ trở thành công cụ hỗ trợ nền kinh tế. Tuy nhiên, trong khi tổng GDP và nhập khẩu tài nguyên tiếp tục tăng trưởng thì nợ ở trong nước cũng tăng trưởng tương ứng.

Khi hiểu được mô hình chu kỳ kinh tế thế giới, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về chiến lược Trung Hoa của Biden. Không thể phủ nhận rằng, mặc dù đã tồn tại nhiều nhà máy bóc lột sức lao động trong quá khứ nhưng trong vài thập kỷ qua, Trung Quốc đã là người chiến thắng lớn nhất của toàn cầu hóa. Là một quốc gia có tài nguyên khoáng sản bản địa rất khan hiếm trong thời kỳ chủ nghĩa thực dân do châu Âu dẫn đầu, Trung Quốc gặp khó khăn trong việc nhập khẩu tài nguyên do các giao cản thuế quan được Anh và Pháp xây dựng làm cho việc công nghiệp hóa trở nên xa vời. Tuy nhiên, dưới hệ thống thương mại tự do mà Mỹ dẫn đầu, chi phí thuế quan đã giảm đáng kể và trật tự quốc tế trở nên ổn định hơn. Các nhóm cướp biển gần như là bị triệt tiêu. Trung Quốc có thể nhập khẩu tài nguyên khoáng sản với chi phí thấp hơn, tạo nền tảng cho sự công nghiệp hóa.

Hoa Kỳ có một thái độ phức tạp đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Một mặt, sau khi Trung Quốc hội nhập vào hệ thống toàn cầu hóa, nước này đã đẩy giá hàng hóa xuống thấp nhờ chi phí lao động cực kỳ thấp. Sự đóng góp của lao động nhập cư Trung Quốc đã giúp Hoa Kỳ tận hưởng một môi trường thoải mái với tốc độ tăng trưởng cao và lạm phát thấp. Mặt khác, khi một thời gian trôi qua, quy mô kinh tế của Trung Quốc ngày càng mở rộng và có xu hướng muốn bắt kịp Hoa Kỳ. Sau năm 2014, khi GDP của Trung Quốc chiếm hơn 60% GDP của Hoa Kỳ, để duy trì quyền bá chủ trên thế giới, chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc đã chuyển từ can dự sang ngăn chặn. Trung Quốc và Hoa Kỳ bước vào giai đoạn cạnh tranh toàn diện.

Là một quốc gia thiếu tài nguyên nhưng đông dân, Trung Quốc phải tiêu tốn hàng nghìn tỷ đô la mỗi năm để nhập khẩu tài nguyên. Các nguồn tài nguyên như là dầu mỏ từ Trung Đông, quặng sắt từ Australia, khí đốt tự nhiên từ Trung Á, quặng đồng từ Chi Lê, quặng Lithium từ Argentina, quặng nhôm từ Châu Phi, cao su từ Đông Nam Á và đậu nành từ Hoa Kỳ tạo thành nền tảng của nền kinh tế Trung Quốc. Để đảm bảo năng lực nhập khẩu, Trung Quốc phải duy trì mức xuất khẩu cực cao để kiếm đô la Mỹ. Vì vậy, phương pháp kiềm chế Trung Quốc của Hoa Kỳ là hạn chế thương mại, ngăn cho Trung Quốc có đủ tài nguyên từ nước ngoài.

Đối với Mỹ, cách đơn giản và thô bạo nhất là áp đặt cấm vận thương mại, sử dụng ưu thế hải quân của mình để ngăn chặn các tàu chở hàng đi đến Trung Quốc ở phía tây eo biển Malacca, hoặc là có thể đóng băng việc nắm giữ ngoại hối bằng đô la Mỹ và hạn chế sức mua ở nước ngoài. Hầu hết các nguồn lực của Trung Quốc phụ thuộc vào nhập khẩu từ nước ngoài. Các lệnh cấm vận thương mại, đóng băng ngoại hối có thể nhanh chóng khiến cho công nghiệp của Trung Quốc rơi vào tình trạng bế tắc. Tuy nhiên, những biện pháp này chỉ là hành động chiến tranh mà Hoa Kỳ thực hiện để chống lại Nhật Bản và Đức ở trong thế chiến thứ hai. Không có lý do chính đáng nào để làm điều này trong thời bình. Nếu không làm đúng cách, rất dễ dẫn đến chiến tranh giữa hai nước. Nếu không được thực hiện cẩn thận, rất dễ dẫn đến chiến tranh giữa hai nước.

Vì không thể trực tiếp hạn chế nhập khẩu, phương pháp gián tiếp là giảm sức cạnh tranh xuất khẩu của Trung Quốc. Lưu ý rằng sức cạnh tranh xuất khẩu khác quy mô xuất khẩu và khác thặng dư thương mại, qua đó giảm khả năng thanh toán nhập khẩu và khai thác tài nguyên của Trung Quốc. Trong nhiệm kỳ của Obama, Mỹ đã sử dụng hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương CPTPP với hy vọng sẽ tạo ra một hệ thống thương mại mới ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương loại bỏ Trung Quốc. Tuy nhiên, CPTPP cuối cùng đã thất bại không chỉ vì Trump lên nắm quyền mà còn vì các quốc gia thành viên TPP có mức độ phát triển không đồng đều, khó có thể thống nhất các tiêu chuẩn thương mại.

Trong nhiệm kỳ đầu tiên của Trump, Mỹ đã sử dụng chiến tranh thương mại với hy vọng thông qua việc tăng thuế sẽ làm tăng chi phí xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ, kết hợp với cải cách của Mỹ gây áp lực buộc ngành chế tạo của Trung Quốc trở về Mỹ. Tuy nhiên, hiệu quả của chiến tranh thương mại rất hạn chế do chi phí lao động của Trung Quốc thấp hơn rất nhiều so với Mỹ. Ngay cả khi áp dụng mức thuế 25%, khả năng cạnh tranh của ngành sản xuất Trung Quốc vẫn cao hơn Mỹ. Dưới thời Trump, xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ tăng thay vì giảm. Khoảng cách sức mạnh quốc gia giữa Trung Quốc và Mỹ ngày càng được thu hẹp.

Khi Biden lên nắm quyền, sau một loạt các đánh giá, Mỹ đã từ bỏ ý tưởng tách rời hoàn toàn khỏi Trung Quốc vì điều đó sẽ khiến lạm phát ở Mỹ hoàn toàn mất kiểm soát. Nội các của Biden đã thiết kế một chiến lược mới đối với Trung Quốc, đó là phong tỏa công nghệ và tái cấu trúc chuỗi cung ứng với việc sử dụng các lá bài Nga, Ukraina và Đài Loan.

Trong thời kỳ hưởng lợi từ dân số, Trung Quốc có thể duy trì sức cạnh tranh xuất khẩu nhờ chi phí lao động thấp. Tuy nhiên, với sự lão hóa dân số nhanh chóng và chi phí lao động trong nước gia tăng, xu hướng chuyển các ngành công nghiệp thấp cấp sang Ấn Độ và Đông Nam Á là không thể tránh khỏi. Để duy trì sức cạnh tranh xuất khẩu, Trung Quốc cần hoàn tất nhanh chóng việc chuyển đổi và nâng cấp ngành công nghiệp, chiếm vị trí thuận lợi hơn ở trong hệ thống thương mại toàn cầu và vượt qua bẫy thu nhập trung bình bằng cách xuất khẩu sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Đây cũng là con đường mà Nhật Bản và Hàn Quốc đã từng đi qua.

Đối với Mỹ, chìa khóa để kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc là tiếp cận công nghệ từ phương Tây. Trong nhiệm kỳ của Trump, Mỹ đã cố gắng cắt nguồn cung cho các công ty công nghệ Trung Quốc nhưng hiệu quả là không đáng kể. Do quyền tài phán dài hạn của Hoa Kỳ chỉ có thể nhắm vào Trung Quốc chứ không thể hạn chế các đồng minh của nước này nên các công ty Trung Quốc vẫn có thể có được công nghệ tiên tiến từ Châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc. Khác với Trump, Biden nhận thức rõ ràng sức mạnh thực sự của Mỹ không nằm ở quy mô kinh tế và quân sự mà nằm ở khả năng sử dụng công cụ áp đặt quy định. Trật tự quốc tế ngày nay do Hoa Kỳ thiết lập và các tổ chức quốc tế như là Liên hợp quốc, WTO, Ngân hàng Thế giới và IMF đều do Hoa Kỳ kiểm soát. Đây là kết quả của việc Mỹ liên tiếp giành chiến thắng trong các cuộc chiến tranh thế giới cũng như là chiến tranh lạnh. Những gì Biden phải làm là sửa đổi các quy tắc quốc tế để biến Trung Quốc từ lợi thế trong thương mại quốc tế trở thành bất lợi, đồng thời phát động một cuộc tấn công giảm quy mô và nền kinh tế Trung Quốc. Tuy nhiên, sử dụng vũ khí dựa trên luật lệ cần có sự hợp tác của các đồng minh. Trong nhiệm kỳ của Trump, do chính sách cô lập của Mỹ, liên minh phương Tây đã xuất hiện các rạn nứt. Châu Âu và Nhật Bản không sẵn sàng phối hợp với chính sách đối ngoại của Mỹ dẫn đến việc các lệnh cấm vận công nghệ đối với Trung Quốc của Mỹ gặp nhiều lỗ hổng.

Để kéo Châu Âu và Nhật Bản vào cùng cuộc chiến chống Trung Quốc, Biden đã chủ động kích động chiến tranh Nga Ukraina và gia tăng căng thẳng ở eo biển Đài Loan. Châu Âu bị đe dọa nghiêm trọng về an ninh địa chính trị trong khi Nhật Bản và Hàn Quốc lo ngại trở thành Ukraina tiếp theo, buộc họ phải gia tăng phụ thuộc vào Mỹ. Liên minh phương Tây lỏng lẻo đã nhanh chóng đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Mỹ, hợp tác triển khai chiến lược giảm thiểu rủi ro và thực hiện phong tỏa công nghệ toàn diện chống lại Trung Quốc. Vì vậy, vấn đề Nga Ukraina tưởng chừng như là nhắm vào Nga nhưng thực chất lại là sức ép cuối cùng được chuyển sang Trung Quốc. Tình huống lý tưởng nhất là Nga và Ukraina duy trì thế cân bằng, hai bên duy trì hiện trạng lâu dài và tạo ra một khu vực đệm thực tế. Kịch bản xấu nhất là Nga hoặc Ukraina giành được lợi thế áp đảo, còn Châu Âu hoặc Trung Quốc phải đích thân chấm dứt tình trạng này. Trong hoàn cảnh như vậy, thế giới sẽ tiếp tục chia thành hai phe đông và tây và châu Âu sẽ hợp tác tích cực hơn với chính sách phong tỏa công nghệ chống lại Trung Quốc của Hoa Kỳ.

Trong thời đại thông tin, tài nguyên quan trọng nhất không gì khác ngoài chip vì hầu hết các sản phẩm công nghệ cao đều cần đến chip. Trong một xã hội công nghiệp, các nước lớn cạnh tranh với nhau về sản xuất thép và sản xuất điện. Trong tương lai, khả năng tính toán sẽ trở thành chỉ số quan trọng để đo lường sức mạnh tổng hợp quốc gia. Các công nghệ như là trí tuệ nhân tạo, xe lái tự động và 6G đều cần khả năng tính toán cao và chip hiệu suất cao sẽ trở thành tài nguyên chiến lược, quan trọng hơn cả dầu mỏ. Có thể nói ai kiểm soát chip người đó sẽ quyết định vị trí của các quốc gia trong hệ thống phân công lao động toàn cầu trong tương lai sắp tới. Vì vậy, Biden đã lựa chọn cẩn thận các lĩnh vực trọng điểm như là chất bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và điện toán lượng tử để ngăn chặn Trung Quốc. Chừng nào ba lĩnh vực này còn bị hạn chế, không gian nâng cấp công nghiệp của Trung Quốc sẽ bị hạn chế và Trung Quốc sẽ ở vị trí cuối cùng trong chuỗi giá trị toàn cầu trong thời gian dài.

Vì lý do này, đích thân Biden đã thúc đẩy thỏa thuận bán dẫn Mỹ Nhật, Hà Lan, huy động sức mạnh của Châu Âu, Mỹ và Nhật Bản cùng áp đặt lệnh phong tỏa công nghệ đối với Trung Quốc, biến sự cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc trở thành một vấn đề lớn. Trong nửa đầu thế kỷ 20, Nhật Bản đã ngăn chặn quá trình công nghiệp hóa của Trung Quốc bằng cách cắt nguồn cung cấp quặng sắt. Giờ đây, Hoa Kỳ đang cố gắng khóa chặt không gian nâng cấp công nghệ của Trung Quốc bằng cách hạn chế nguồn cung chất bán dẫn. Nhưng động thái này cần có sự hợp tác của các đồng minh, đặc biệt là sự hỗ trợ của Tây Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan. Dưới áp lực địa chính trị, Châu Âu và Nhật Bản dù mất đi hàng hóa giá rẻ cũng không chia sẻ công nghệ chip với Trung Quốc. Vì vậy, Trung Quốc có thể tự lực cánh sinh để vượt qua phong tỏa bán dẫn không? Chỉ có thể nói là thách thức rất lớn. Vì sự phát triển của chất bán dẫn đã trải qua hàng trăm năm. Với nhiều nhà khoa học đạt giải Nobel, đối với một quốc gia đi sau, việc thu hẹp khoảng cách với cả phương Tây trong nghiên cứu cơ bản trong vài năm là không hề dễ dàng.

Chiến lược tái cấu trúc chuỗi cung ứng. Ngoài phong tỏa công nghệ, một chiến lược khác của Biden đối với Trung Quốc là tái cấu trúc chuỗi cung ứng. Dưới tác động của tình hình Nga Ukraina và rủi ro từ Đài Loan, một phần vốn đầu tư nước ngoài tại Trung Quốc đang xem xét chuyển năng lực sản xuất sang Ấn Độ, Việt Nam, Đông Nam Á và Mexico. Những khu này có tổng dân số lên đến 2 tỷ người. Mặc dù chất lượng lao động không bằng Trung Quốc nhưng dân số trẻ hơn có thể tiếp nhận một phần chuỗi ngành công nghiệp chuyển ra khỏi Trung Quốc. Nếu nói rằng giảm thiểu rủi ro là vấn đề hành chính thì tái cấu trúc chuỗi cung ứng chủ yếu liên quan đến cấp độ doanh nghiệp, các nhà máy sẽ di chuyển theo sự chuyển giao đơn hàng. Có thể thấy Mỹ đã thấm nhuần bài học trong việc phát triển Trung Quốc thành công xưởng của thế giới lần này và không dám bỏ hết trứng vào một giỏ khi lại phân công lao động quốc tế. Ấn Độ gần trung tâm năng lượng thế giới, Đông Nam Á có sẵn tài nguyên. Mexico giáp với Mỹ, bất kỳ khu vực nào phát triển đều có thể trở thành mối đe dọa đối với Mỹ. Do đó, Mỹ sẵn sàng hy sinh hiệu quả để làm cho chuỗi cung ứng trở nên đa dạng và phân tán hơn.

Biden định nghĩa quan hệ của Trung Mỹ là cạnh tranh chiến lược, cố gắng kiềm chế sự phát triển của Trung Quốc mà không gây ra chiến tranh. Trên thực tế, tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc không thể tách rời khỏi ba điều kiện. Thứ nhất là lực lượng lao động dồi dào trong nước. Thứ hai là nguồn lực khổng lồ nhập khẩu từ nước ngoài và thứ ba là công nghệ cùng quản lý từ các quốc gia phát triển. Hoa Kỳ đang cố gắng sử dụng phong tỏa công nghệ để hạn chế không gian nâng cấp công nghiệp của Trung Quốc và nhốt Trung Quốc vào tình trạng sức mạnh tính toán thấp nhất. Đồng thời, thông qua tái cấu trúc chuỗi cung ứng, Mỹ làm suy yếu nền tảng công nghiệp của Trung Quốc, làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc. Mỹ cũng tận dụng cuộc cách mạng trí tuệ nhân tạo để khôi phục khả năng cạnh tranh kinh tế và nới rộng khoảng cách với Trung Quốc. Theo tính toán của chính quyền Biden, chỉ cần chiến lược phong tỏa công nghệ, cộng tái cấu trúc chuỗi cung ứng có thể kéo dài lên đến 10 năm thì Trung Quốc sẽ bước vào thời kỳ già hóa sâu, sẽ khó duy trì khả năng cạnh tranh xuất khẩu ở mức hiện tại. Để đảm bảo cân bằng ngoại hối, quy mô nhập khẩu tài nguyên chỉ có thể giảm xuống và tổng thể nền kinh tế sẽ bị giới hạn trong một phạm vi nhất định. Trong trường hợp này, Mỹ sẽ nghiễm nhiên giành chiến thắng trong cuộc đối đầu Trung Mỹ.

Sự thiếu hụt tài nguyên là vấn đề mà Trung Quốc không thể tránh khỏi. Để đảm bảo nhập khẩu tài nguyên, Trung Quốc phải duy trì sức mạnh cạnh tranh xuất khẩu tương ứng. Trên thế giới chỉ có Mỹ và Nga là hai quốc gia có thể tự cung tự cấp tài nguyên. Điều này do cấu trúc địa chất quyết định. Mỹ có thể rút lui về châu Mỹ và thực hiện chủ nghĩa biệt lập bởi vì châu Mỹ không thiếu tài nguyên. Điều này cũng đúng với Nga. Nga không thiếu các nguồn tài nguyên như là than, thép, gỗ, ngũ cốc, dầu mỏ và khí đốt tự nhiên. Chỉ cần tài nguyên và đất đai còn đó, Nga sẽ luôn tồn tại dù có gặp khó khăn. Và đó là toàn bộ bài phân tích của cây bút Victor Farm về chiến lược kiềm tỏa nền kinh tế của Trung Quốc và thiết lập một trật tự kinh tế thế giới ngày nay. Bạn có suy nghĩ như thế nào về nội dung video lần này? Hãy cùng bình luận ở phía bên dưới để cùng thảo luận với chúng mình nhé. Cảm ơn các bạn đã đón xem trọn vẹn video của Spider Room. Hẹn gặp lại các bạn trong những video lần sau. Đây là Spider Room, còn mình là Ping Dot. Sia