Transcription
Hi, xin chào các bạn. Để khởi đầu chuỗi video về nhi khoa, thì hôm nay chúng ta cùng nhau tìm hiểu một chủ đề bệnh học tương đối lớn tại khoa nội thận, đó là hội chứng thận hư.
Về định nghĩa, đây là một bệnh lý cầu thận có tăng tính thấm của màng lọc cầu thận. Như vậy thì vị trí tổn thương trong hội chứng thận hư là tại cầu thận. Và điển hình của hội chứng thận hư gồm 3 cái triệu chứng như sau: Thứ nhất là tiểu đạm ngưỡng thận hư, thứ hai là rối loạn lipid máu, và thứ ba là phù.
Tiểu đạm ngưỡng thận hư, hiệu có thể xác định bằng một trong ba chỉ số: thứ nhất là đạm niệu 24 giờ lớn hơn hoặc bằng 50 mg/kg/ngày, hoặc đạm niệu lớn hơn hoặc bằng 40 mg/m²/giờ, và hoặc là mình có thể sẽ có tỉ lệ là đạm chia creatinin lớn hơn hoặc bằng 200 mg/mmol.
Vấn đề thứ hai đó là rối loạn lipid máu, thì chủ yếu ở đây là đánh vào chỉ số giảm Albumin máu. Albumin máu là giảm dưới 25g/l. Để các đơn vị của nó là gam/lít. Chú trọng cái phần đơn vị, ví dụ như đạm/creatinin niệu làm mg/mmol, thì trong trường hợp người ta cho da hoặc là micro, hiện ta sẽ đổi và hệ thống đơn vị này. Albumin máu và Leo mình nhấn phải là một lần nữa là nó dưới 25 gam/lít.
Và tính chất của phù trong hội chứng thận hư là nó sẽ xuất hiện phù toàn thân. Nó có thể xuất hiện với bệnh cảnh là ban đầu là phù mi mắt, sau đó là phù mặt, rồi đến thế bụng to ra, phù xuất hiện ở phục toàn thân này.
Về sinh lý bệnh hội chứng thận hư, đây là một phần mình tương đối thích. Trong phần bệnh học, quá nghĩa phân sẽ bị bệnh là cái phần mà mình cảm giác là tò mò nhiều nhất. Và sinh lý bệnh thì mình có tham khảo ở các các video clip của mấy bạn ở nước ngoài họ làm, và mình thấy là cái cách thiết kế họ rất là hay.
Cách xử lý bệnh hội chứng thận hư, hiện ta xuất phát điểm là tổn thương cái màng lọc cầu thận này, dẫn đến tăng tính thấm màng lọc cầu thận. Cụ thể với màn lọc này như thế nào thì chút xíu mình sẽ cùng nhau tìm hiểu cho cái phần giữa của bệnh. Có đây là mình sẽ thấy được là màn lọc cầu thận khi nó bị tổn thương, hợp protein sẽ thoát ra. Bình thường thì protein nó sẽ không được lọc qua phần ống thận. Tuy nhiên, ở trong trường hợp này á thì protein từ trong máu đi vào cho ống thận. Như vậy thì nó mất cái bộ tin này qua nước tiểu là xuất hiện ra phần tiểu đạm. Và tiểu đạm điển hình trong hội chứng thận hư là tiểu đạm ngưỡng thận hư, tức là tiểu đạm rất là nhiều, lớn hơn 3,5 gam trong 24 giờ.
Vấn đề tiểu đạm này, tiểu đạm rất là nhiều, có thể có tiểu máu hoặc không. Và nó một phần các protein mất đi đó là Immunoglobulin hay là các protein mang đóng vai trò trong hệ miễn dịch, là làm mất cái Immunoglobulin, tăng nguy cơ nhiễm trùng trên bệnh nhân hội chứng thận hư.
Ra có vấn đề tiểu đạm nhiều quá thì nó dẫn đến là giảm protein trong máu, hay giảm Albumin máu. Khi mà giảm Albumin máu thì nó xuất hiện hai cái hệ lụy chính. Một là khi giảm Albumin máu thì nó sẽ kích thích tế bào gan làm sản xuất sản xuất Albumin để bù trừ, là cái thứ nhất. Cái thứ hai là làm tăng sản xuất cholesterol, nên trong triệu chứng của hội chứng thận hư có thể có xuất hiện tăng các phần cholesterol trong máu.
Và các vấn đề hệ lụy thứ hai của giảm Albumin máu đó là làm giảm áp suất keo thẩm thấu. Giảm áp suất keo thẩm thấu để dẫn đến lạm phát dịch và điện giải ra ngoài khoảng kẽ, gây phù. Ở đây mình sẽ thấy nhắc lại một chút phần sinh lý. Đó là phần nội mạc thì nó sẽ có hai cái áp lực chính mình quan tâm, đó là áp suất thủy tĩnh và áp suất keo mao mạch. Ở bên ngoài là có áp suất thủy tĩnh và áp suất keo phần dịch kẽ. Tuy nhiên, ở đây mình quan tâm đến phần áp suất thủy tĩnh và áp suất keo trong mao mạch. Phần áp suất thủy tĩnh thì có vai trò là đẩy nước ra bên ngoài mạch máu, còn áp suất keo thì sẽ có vai trò là kéo nước vào bên trong.
Như vậy thì trong trường hợp hội chứng thận hư, nó làm giảm Albumin máu, tức là làm giảm các áp suất keo này. Và khi giảm áp suất keo thì thiên hướng nước sẽ bị đẩy ra ngoài, thì nó sẽ gây ra phù trong hội chứng thận hư. Và cái phù này á, ngoài cái việc phát dịch gây phù này, cái thứ hai là nó làm giảm thể tích nội mạch. Khi dịch nó phát ra ngoài thì nó ra phù bên ngoài, nhưng mà thể tích trong lòng mạch thì giảm xuống. Giảm thể tích nội mạch thì giảm cung lượng tim, hay là cung lượng tim. Giảm cung lượng tim thì dẫn đến là giảm lưu lượng máu tới thận, và giảm lượng máu tới rất nhiều cơ quan, trong đó có thận. Và khi đấy giờ làm giảm lưu lượng máu tới thận thì nó làm giảm độ lọc, giảm độ lọc cầu thận.
Ở đây mình sẽ thấy là khi giảm lưu lượng máu tới thận thì nó sẽ hoạt hóa các tế bào nội mô tại cái phần tiểu động mạch đến, nhà làm sản sinh ra Renin và hoạt hóa cái Renin-Angiotensin-Aldosterone system. Sẽ giúp chuyển Angiotensinogen được sản xuất từ gan thành Angiotensin I, đi đến phổi, tại phổi khi có men chuyển đổi thành Angiotensin II. Chính cái chất Angiotensin II này nó sẽ làm tăng giữ muối và nước lại, dẫn đến là tình trạng phù ngày càng nghiêm trọng hơn. Đó là các phần sinh lý bệnh trong hội chứng thận hư. Người thấy một vòng sinh lý bệnh thì chúng ta có thể đoán được phần nào các triệu chứng.
Tiếp theo mình sẽ nói đến phần phân loại trong hội chứng thận hư. Thì mình sẽ có hai cái hệ thống phân loại được đề cập ở đây, đó là theo nguyên nhân và theo tuổi.
Và theo nguyên nhân thì có là hội chứng thận hư Nguyên Phát và hội chứng thận hư thứ phát. Hội chứng thận hư Nguyên Phát chiếm 80 đến 90 phần trăm các trường hợp và nó gặp ở 3 dạng sang thương và bệnh chủ yếu là sang thương tối thiểu. Đây là phần thường gặp nhất, là chiếm 80 đến 90 phần trăm các trường hợp. Hai là xơ cầu thận khu trú từng phần. Thứ ba là tăng sinh trung mô. Tuy nhiên, các vấn đề sang thương giải phẫu bệnh nó hiểu xíu mình sẽ đề cập trong phần giải phẫu bệnh có liên quan đến sinh thiết thận này.
Cái thứ hai đó là hội chứng thận hư thứ phát. Hội chứng thận hư thứ phát và nó liên quan đến gọi là sau một cái bệnh lý do đó gây ra tổn thương đến thận. Ví dụ như là liên quan đến bệnh lý hệ thống, là khi mình khám phải lo có đau khớp, bên ngoài ra, liên quan đến Lupus, hoặc là hội chứng hoặc là cái bệnh lý hay knox calls, hoặc là sau nhiễm trùng, hậu nhiễm liên cầu beta, liên cầu tan huyết nhóm A này, hoặc là HIV. Đây là những cái mà mình có thể khai thác hoặc rõ đề nghị rất cận lâm sàng để tầm soát trong trường hợp có nghi ngờ. Là bạn lấy di truyền chuyển hóa, ví dụ người đái tháo đường, hoặc là hội chứng u tủy. Các nguyên nhân khác, ví dụ như là do thuốc, hoặc là do đối con vật. Thì đó là hội chứng thận hư thứ phát.
Các hệ thống phân loại thứ hai đó là theo tuổi. Tuy nhiên, ở đây chỉ đề cập đến nhỏ hơn 1 tuổi là liên quan đó hội chứng thận hư bẩm sinh hoặc là hội chứng thận hư giữ nhi. Hội chứng thận hư bẩm sinh ra rủ nhi, mình lấy móc lọc 3 tháng là từ 0 đến 3 tháng, khi đó là hội chứng thận hư bẩm sinh. Còn từ 3 tháng đến dưới 1 tuổi thì đó là hội chứng thận hư giữ nhi. Đó là liên quan đến các phần hệ thống phân loại.
Phần tiếp theo đó là giải phẫu bệnh. Đây là một cái phần nào cũng mở rộng thôi. Em đã sẽ nhắc lại một chút về cấu trúc của cầu thận. Đấy thì nó có cái kia A và đây là tiểu động mạch đi, là các phần cầu, phần cầu thận để dẫn ra ống thận. Bởi vì nó có cái cái lớp lọc như thế nào là tế bào bên ngoài ra tế bào biểu mô vảy của cầu thận, vào bên trong, bên trong nó thì có các mà đi từ ngoài vào trong thì có bên ngoài cùng là các tế bào chân giả này, rồi đến cái màng đáy bao bọc, và cuối cùng là tới phần nội mô mạch máu. Như vậy thì về tổng quan định hình hướng ta các lớp lọc quá ta sẽ đi từ trong ra ngoài. Đây là phần mạch máu nè, mạch máu ở đây là dạng fenestrated, ở cái phần mao mạch mà kiểu như là nó có nó có nhiều cái khoảng thở hoặc là nhiều cái khe trống để cho những cái chất có thể thoát ra ngoài được. Để mình có 3 dạng hệ thống mao mạch. Đây là cái dạng hệ thống mà nó rộng rãi và khoáng nhất để cho các chất có thể dễ dàng xuyên qua được. Đây là cái lớp tế bào nội mô của tế bào mao mạch. Đây là phần máu và các protein. Đây là màng đáy, tức là các chất mà muốn đi qua đồ cấp thì nó bộ phải xuyên qua lớp nội mô này, rồi bắt đầu xuyên qua màng đáy và lớp cuối cùng là các tế bào chân giả, nó có những cái vòng đóng vai trò đấy, nó ngăn chặn protein, ngăn chặn tế bào hồng cầu có thể đi qua được. Trong khi gọi là trong trường hợp là bình thường nha. Còn trong trường hợp hội chứng thận hư thì sẽ như thế nào? Đây mình thấy bình thường, bác sẽ ngăn không cho hồng cầu, không cho protein đi qua, bởi vì cái lớp này nó khá là chặt chẽ. Cô cháu trường hợp hội chứng thận hư, hiện ta thấy tế bào của tôi xoay nó không bị tổn thương, rồi tế bào nội mô thì nó kiểu như nó khoảng cách nó gian dài, dẫn đến là xuất hiện những cái khe trống và protein có thể xuyên qua được. Tin hồng cầu á thì có thể qua đường ngoài không? Và trong trường hợp hội chứng thận hư, hiểu ta thấy rất ít trường hợp tiểu máu đại thể, mà chủ yếu là tiểu đạm ngưỡng thận hư là chính. Đây là về cái gọi là cái gì ta cấu trúc lọc. Là bây giờ mình xem cái giải phẫu bệnh của 3 loại sang thương mà trước đó mà đã có đề cập, đó là liên quan đến hội chứng thận hư Nguyên Phát. Suy nghĩ ở đây chỉ mang tính chất lý thuyết. Không đối với từng loại sang thương thì mình sẽ quan tâm đến ba vấn đề, bốn vấn đề. Thì thấy rất là cái tỉ lệ thường gặp, cái thứ hai là quan sát dưới kính hiển vi quang học, cái thứ ba là miễn dịch huỳnh quang của nó như thế nào, và cuối cùng là kính hiển vi điện tử thì mình sẽ thấy được gì. Đó là 4 vấn đề mình cần quan tâm trong từng loại sang thương.
Đi vào cái sang thương tối thiểu, về tỉ lệ thường gặp của nó là lên đến 80 phần trăm các trường hợp. Người ta thấy đồ thường gặp của nó là rất thường gặp này, thường gặp ở hội chứng thận hư ở trẻ em thôi nha. Rồi ở kính hiển vi quang học đó, thì mình thấy là cầu thận người như là bình thường. Về miễn dịch huỳnh quang đó là âm tính, tí nữa không có không có xuất hiện cụ thể và là cái kháng thể. Rồi cái kính hiển vi điện tử, khi bị sẽ thấy là có thay đổi của tế bào chân giả của tế bào biểu mô. Nó bị dẹp xuống. Mà để tính lại đó là cầu thận thì không có vấn đề.
Hoặc cái thứ hai đó là xơ cầu thận khu trú từng vùng. Thì cái tên cũng nói lên tất cả rồi. Và tỉ lệ thường gặp của nó là 7 đến 10 phần trăm. Đa số là cầu thận bình thường, tuy nhiên là có một số cầu thận bị xơ hóa từng phần, để để gọi là khu trú từng vùng. Về miễn dịch huỳnh quang thì có thể dương tính với IgM và bộ thể. Về cái kính hiển vi điện tử thì có tổn thương lan cả chân giả của tế bào biểu mô.
Về tăng sinh trung mô lan tỏa, ra các dạng thứ ba thì nó chỉ chiếm nó 5 phần trăm rồi. Và mình quan sát được trên kính hiển vi quang học với miễn dịch huỳnh quang. Học thì mình sẽ thấy là tăng sinh tế bào trung mô. Còn miễn dịch huỳnh quang thì nó dương tính với IgM và C3, cái bộ thể C3. Tuy nhiên, phần đó là viết chơi cho vui, nó là ta là trong video của mình thì không đánh thằng đó trọng tâm đâu.
Đây tiếp theo là mình có phần khá quan trọng. Đây là cái phần quan trọng đối với mình là phần lâm sàng. Trong hội chứng thận hư thì nó liên quan đến cái biểu hiện đầu tiên thường gặp bệnh nhân đến khám đó là phù. Phù này xuất hiện phù toàn thân, có thể là phù mi mắt, sau đó lan rộng ra, sau đó là bụng to ra. Nói chung là phù toàn thân. Rồi nếu mà phù này trong trường hợp mà nặng nề hơn á, đây xuất hiện bán bụng, rồi xuất hiện tràn dịch ra màng phổi. Hiệu xuất hiện dịch bán, mà xuất hiện cái tràn dịch màng phổi. Em mình sẽ thấy là giảm huyết áp hay bình, cái vùng đáy phổi lắm. Giảm huyết áp này có tràn dịch màng phổi. Hoặc là cũng có thể đặt trong trường hợp là phù phổi.
Một cái không thể thiếu đó là tiểu đạm. Tuy nhiên, là vấn đề tiểu đạm này á thì thường có thể ra bệnh nhân sẽ không có để ý vấn đề nước tiểu này. Mà trong trường hợp lại là trẻ em nữa thì khá là khó để có thể xác định được màu của nước tiểu.
Về cận lâm sàng. Cận lâm sàng trong hội chứng thận hư thì mình sẽ phân theo cái phần dịch thể. Xét nghiệm một đó là xét nghiệm nước tiểu. Kiểm tra xác định thông qua các tổng phân tích nước tiểu. Có thể vô số trường hợp và xương hội chứng thận hư ở bệnh nhân có thể phát hiện qua các tổng phân tích nước tiểu này. Và trước khi bệnh nhân có triệu chứng mà xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu này đã bất thường. Nghi ngờ thì làm xét nghiệm lại ra hội chứng thận hư. Chứ tra lâm sàng thì vẫn chưa có biểu hiện phù gì cả. Rồi cái thứ hai là đạm niệu. Đạm niệu có thể là 3+, 4+, hoặc là đạm niệu 24 giờ, hoặc là sẽ các tỷ lệ đạm/creatinin.
Máu thì cho xét nghiệm. Xét nghiệm các phần máu thì liên quan đến Albumin máu nè, là cái quan trọng trong phần chẩn đoán này. Cholesterol máu và ion đồ. Có thể đề nghị thêm xét nghiệm bộ thể C3, C4, ANA. Xét nghiệm tầm soát các bệnh truyền nhiễm, ví dụ như là HBsAg, Anti-HCV.
Quan trọng trong hội chứng thận hư đó là các chỉ định sinh thiết thận. Đó là không phải trong trường hợp nào cũng sẽ thận. Và đây là 4 cái vấn đề đặt ra chỉ định sinh thiết thận trong trường hợp hội chứng thận hư kháng steroid. Và nếu xíu mình sẽ xem coi là khi nào hội chứng thận hư được chẩn đoán là kháng steroid. Thứ hai là hội chứng thận hư xuất hiện dưới một tuổi hoặc là trên 12 tuổi thì có thể cân nhắc chỉ định sinh thiết thận. Thứ ba là hội chứng thận hư có kèm cao huyết áp, hoặc là tiểu máu đại thể, hoặc là tăng creatinine máu cao. Một cái bức tranh kể. Hoặc là có kèm giảm C3, C4. Giữa hai chỉ định sẽ thận. Cuối cùng đó là hội chứng thận hư có kèm biểu hiện của bệnh lý hệ thống. Ví dụ như có đau khớp, có ban ra, và mình nghi ngờ là Lupus.
Và điều trị trong hội chứng thận hư. Điều trị ở đây là mình chỉ đề cập đến cái điều trị cơ bản thôi. Đây là các phác đồ điều trị tại bệnh viện Nhi Đồng 1. Đó là 4-2-3-6. Là mình sẽ chia thành 3 giai đoạn. Giai đoạn tấn công thì có thể kéo dài từ 4 đến 6 tuần và dùng Prednisolone 2 mg/kg/ngày. Nên uống vào buổi sáng. Trong trường hợp mà không đáp ứng thì chút xíu mình bạn sau coi trường hợp đó. Rất tốt cho biết tối. Sau 4 tuần, hẹn ta sẽ chuyển sang các phác đồ cắt ngày. Là mình sẽ sử dụng Prednisolone 1,5 mg/kg, cách ngày trong vòng 8 tuần. Nếu mà bệnh nhân vẫn ok, tiến triển tốt thì sau đó mình sẽ giảm liều dần trong vòng 6 tuần. Là mỗi tuần mình sẽ giảm bớt một phần sáu. Giảm liều dần dần dần xóa lòng. Nhưng Prednisolone này là trong trường hợp mà sau 4 tuần tấn công nhưng bệnh nhân không có đáp ứng, là vẫn xuất hiện protein niệu 3+, 4+. Và thì tiếp tục mình sẽ tiếp tục điều trị Prednisolone 2 mg/kg/ngày cho đến khi đủ 6 tuần. Bị máy móc 6 tuần rồi. Cái máu để mình có thể chẩn đoán đó là hội chứng thận hư kháng Corticoid. Kháng không Corticoid. Đây ta ví dụ một ví dụ ở đây là bé trai cân nặng 15kg để khá đi. Làm về kêu Prednisolone là bao nhiêu viên. Pin kap. Bé trai này là 15kg, mình sẽ nhân cho 2 mg là giá 30 mg. Và viên 5mg. Như vậy thì mình sẽ cần 6 viên uống vào buổi sáng.
Và đánh giá thể bệnh trong hội chứng thận hư. Đây là phòng cũng tương đối quan trọng. Thể bệnh ở đây thì mình sẽ chia thành 4 vấn đề chính: lui bệnh, tái phát, kháng steroid, và lệ thuộc steroid.
Về lui bệnh. Nhất thế chi hàng lui bệnh hoàn toàn hoặc là lui bệnh một phần. Lui bệnh hoàn toàn nghĩa là bệnh nhân hết phù, có kèm với đạm niệu âm tính hoặc là đạm/protein niệu dưới 20 mg/mmol trong 3 ngày liên tiếp. Và lui bệnh một phần là hết phù, có kèm với đạm niệu giảm 50 phần trăm hoặc tỷ lệ đạm niệu trên protein là từ 20 đến 200 mg/mmol trong 3 ngày liên tiếp là không vượt qua cái khoản này.
Về tái phát. Hội chứng thận hư tái phát là sau khi mà đói lui bệnh rồi, cái nó là chỉ xuất hiện cái đạm niệu 3+, 4+ hoặc là tỷ lệ đạm/protein niệu lớn hơn 200 mg/mmol ba ngày sau 3 ngày liên tiếp sau khi đã lui bệnh rồi. Cái phát này lại chia thành thường xuyên với lại không thường xuyên. Ghé móc để mình dẫn bán thường xuyên không thường xuyên là 6 tháng, 1 năm. Là 12 tháng. Trong 6 tháng, nếu mà xuất hiện một lần thì đó là không thường xuyên. Mà trong 6 tháng mới xuất hiện từ hai lần gió lên thì đó là thường xuyên. Trong 12 tháng nữa xuất hiện 3 lần thì không thường xuyên, còn từ 4 lần trở lên thì đó là thường xuyên. Hãy để những chiếc cốc để tao xem rồi lại để tái phát thường xuyên nhưng không thường xuyên. Bởi vì việc tái phát thường xuyên, không thường xuyên nó sẽ ảnh hưởng đến quyết định điều trị.
Và kháng Corticoid là không lui bệnh sau khi đã từng điều trị với Prednisolone 6 đến 8 tuần. Nhóm đã có ra khi mà tấn công tấn công liều Prednisolone 2 mg/kg/ngày trong 4 tuần, không không đáp ứng thì tiếp tục hai tuần nữa, 3-6 tuần mà vẫn không đáp ứng thì đó là kháng steroid. Còn ngược lại, lệ thuộc là nó xuất hiện 2 lần tái phát liên tục khi mà giảm liều hoặc là nhân Prednisolone trong hai tuần đó là hội chứng thận hư lại thuộc. Còn ở vòng cuối cùng đó là liên quan đến một chút về mở rộng về điều trị các đợt tái phát trong hội chứng thận hư. Như đây là 2 cái khái niệm về tái phát không thường xuyên và tái phát thường xuyên. Trước đó mình đã có đề cập. Tái phát không thường xuyên là khi bệnh nhân đã đạt lui bệnh rồi, thứ ba hết phù, đạm niệu thấp tính hoặc là để lại đạm/protein dưới 20 mg/mmol. Trong trường hợp bệnh nhân đã lui bệnh rồi và tái phát bệnh lại, tức là xuất hiện protein 3+, 4+ hoặc là xuất hiện đạm/protein lớn hơn 200 mg/mmol trong 3 ngày liên tiếp. Và thì mình sẽ xem xét các thời điểm. Thời điểm xuất hiện bệnh trong 6 tháng, trong 12 tháng. Đây là tái phát không thường xuyên, với là xuất hiện một lần trong 6 tháng và 3 lần trong 12 tháng. Chỉ thi trước này quyết định điều trị vẫn là Prednisolone 2 mg/kg/ngày cho đến khi đạm niệu âm tính trong 3 ngày liên tiếp thì sẽ chuyển sang phác đồ cắt ngày. Là sử dụng Prednisolone 1,5 mg/kg một ngày, 1,5 mg/kg một ngày á và sử dụng cách ngày trong tối thiểu là 4 tuần. Liên quan đến tái phát không thường xuyên. Còn trong trường hợp tái phát thường xuyên là cũng móc 6 tháng, 12 tháng nhưng mà xuất hiện 2 lần trong 6 tháng, 2 lần trở lên. Là 4 lần trở lên cho 12 tháng. Thì vẫn quyết định điều trị cũng tương tự tương tự với tái phát không thường xuyên. Là vẫn khởi đầu với Prednisolone 2 mg/kg/ngày cho đến khi đạm niệu âm tính 3 ngày liên tiếp. Sau đó chuyển sang sử dụng cách ngày là Prednisolone 1,5 mg/kg cách ngày trong 4 tuần. Nhưng mà 64 tuổi đó hiểu ta không nhưng mà tiếp tục Prednisolone cách ngày và anh gần tới mức bất thấp nhất mà vẫn đạt cái hiệu quả để duy trì các tình trạng ổn định ở bệnh nhân nhất là trong vòng 9 đến 18 tháng. Và trong trường hợp có một cái thuốc thay thế đó là Cyclosporine. Cyclosporine có hiệu quả trong việc điều trị điều trị khi uống hội chứng thận hư nó kháng Corticoid hoặc là duy trì cái lui bệnh ở bệnh nhân tái phát thường xuyên hoặc lệ thuộc Corticoid. Cho đến là cho phép bệnh nhân này giảm liều khi mà bệnh nhân này sử dụng Corticoid với liều cao á, vẫn đáp ứng với Corticoid liều cao, những tấm thể sử dụng Cyclosporine. Hãy có thể giảm liều Corticoid xuống. Cyclosporine nó thì người ta dùng liều điều trị là 4 đến 5 mg/kg/ngày và chia 2 lần. Tuy nhiên, là đối với Cyclosporine thì mình chú trọng đến các vấn đề là ngộ độc. Ngộ độc của Cyclosporine thì có hai tình huống đó là ngộ độc cấp hoặc là ngộ độc mạn. Khi nó được cấp là trong 3 đến 7 ngày thì mình phải kiểm tra nồng độ Creatinine trong máu và protein. Nếu bên trong trường hợp Creatinine bình thường thì không sao. Nếu trong trường hợp protein nó tăng trên 30 phần trăm mà không rõ nguyên nhân thì bụng mình phải giảm liều, giảm 25 phần trăm tổng số liều của Cyclosporine và phê test lại chức năng thận. Còn trong trường hợp ngộ độc mạn là khi sử dụng Cyclosporine từ 25 trở lên đó thì buộc mình hoạt đó là sử dụng khoảng 25 thì mình sinh thiết thận lại để kiểm tra xem nó có xơ hóa thận mô cả hai không. Bởi vì đây là một biến chứng trong quá trình sử dụng của Cyclosporine.
Để cái chung, đây là một chủ đề mình học và phát là lớn, khá là rộng lớn. Tuy nhiên là video này chỉ hi vọng là giúp mọi người có cái nhìn đến điều trị phần cơ bản thôi, chứ cận bệnh nhân lần đầu thôi. Còn những phần thi sau quá, hiện ta không không đủ là mình cũng không đủ khả năng để có thể phân tích quá rộng về phía sau. Cảm ơn mọi người đã theo dõi video clip này. Hẹn gặp lại các bạn trong các video clip sau.