Transcription
Thưa quý vị khán giả, trong suốt 80 năm đấu tranh giành độc lập và xây dựng đất nước, có một lực lượng thầm lặng nhưng kiên cường, hiện diện trên nhiều mặt trận. Sự hy sinh và đóng góp của họ đã in dấu trong từng bước chuyển mình của dân tộc. Bộ phim này sẽ hé mở cho quý vị một phần lịch sử ít người biết tới, nơi từng dòng thông tin, từng quyết định, từng con người đều mang trong mình sứ mệnh thiêng liêng. Trân trọng giới thiệu với quý vị bộ phim VTV đặc biệt về một ngành đặc biệt, ngành tình báo Quốc phòng Việt Nam. Kính mời quý vị đón xem.
[âm nhạc]
Những người xác định coi như chết rồi, nhưng tai phải tỏ, mắt phải sáng để đi sát địch. Ở mặt trận không tiếng súng nhưng tàn khốc ấy, thông tin được cung cấp có thể làm thay đổi cục diện một trận đánh, một cuộc chiến, thậm chí làm thay đổi vận mệnh của cả một dân tộc.
[âm nhạc]
Bao hiểm nguy, bao chiến tích không lời. Các anh lấy thân mình dựng tường thành Tổ quốc. 80 năm thầm lặng, 80 năm anh hùng.
[âm nhạc]
Những bức ảnh, mỗi hiện vật ghi dấu sự hy sinh và những chiến công của các lớp thế hệ cán bộ chiến sĩ tình báo quốc phòng Việt Nam trong năm qua.
[âm nhạc]
Bảo tàng tình báo quốc phòng, nơi chứa đựng nhiều điều đặc biệt của một ngành đặc biệt. Có những người lính phải sống hai thân phận: một chiến sĩ cách mạng và một kẻ đối lập trong mắt quần chúng. Có những thân phận chỉ một người biết, người liên lạc duy nhất. Khi người này hy sinh, thân phận cuộc đời thật có nguy cơ chỉ còn tồn tại trong im lặng. Có nhiều người phải sống và chết trong sự hiểu lầm, bị chính đồng đội hay người thân coi là phản bội.
"Những người làm tình báo họ phải hy sinh rất lớn, nhất là những người thân, gia đình của họ khi mà bị mang lý lịch đen, thậm chí cả cuộc đời của họ hết cơ hội phấn đấu, cả gia đình, cả dòng họ bị ảnh hưởng thì đó là sự mất mát vô cùng lớn."
"Vậy theo bác thì cái đặc điểm lớn nhất của tình báo Việt Nam khác với tình báo các nước là gì ạ?"
"Tư tưởng là nhiều, yêu nước là nhiều, thương đồng bào là nhiều mà chứ chẳng có cái gì khác."
"Muốn thắng được Mỹ thì tất cả mọi người phải tham gia, không có sợ gì hết. Không biết sợ luôn."
[âm nhạc]
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên Ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy nhiên, vận mệnh non trẻ của đất nước lúc này đứng trước muôn vàn thử thách, bị đe dọa bởi cả ngoại xâm lẫn nội phản.
[âm nhạc]
Trước bối cảnh cam go ấy, để chủ động nắm bắt mọi động thái của kẻ thù và dẫn đường cho cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập một lực lượng đặc biệt: lực lượng tình báo, đội ngũ là tai, là mắt của quân đội.
Ngày 10 tháng 9 năm 1945, Bộ Tổng Tham mưu, cơ quan tham mưu chiến lược đầu não của Quân đội nhân dân Việt Nam, chính thức được thành lập. Tiếp đó, ngày 25 tháng 10 năm 1945, Phòng Tình báo trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu được thành lập tại số nhà 16 Rikie, nay là số 18 Nguyễn Du, Hà Nội. Đồng chí Hoàng Minh Đạo giữ chức trưởng phòng.
Bác đã định hướng tư duy và phương pháp hoạt động cho ngành tình báo bằng những lời dạy sâu sắc: "Tình báo là một khoa học, phải bí mật tức là tuyệt đối tránh sở xuất, phải cẩn thận tức là tuyệt đối tránh cầu thả, phải khôn khéo tức là tuyệt đối tránh luộm thuộm, phải kiên nhẫn tức là tuyệt đối tránh hấp tấp."
Những lời dạy ấy đã trở thành kim chỉ nam cho công tác tình báo, soi đường cho ngành qua 80 năm hình thành và phát triển đến hôm nay và mai sau. Thấm nhuần lời căn dặn của Người, những mũi tiên phong của Ban Tình báo Bắc Bộ được bí mật triển khai từng bước dựng nên mạng lưới tình báo cách mạng giữa lòng quân thù.
[âm nhạc]
Một bức ảnh rất đỗi quen thuộc về vị lãnh tụ kính yêu của chúng ta. Nhưng với ngành tình báo quốc phòng, đây là sự kiện vô cùng đặc biệt. Sáng sớm ngày 16 tháng 5 năm 1950, giữa núi rừng hiểm trở Cao Bằng, một khoảnh khắc hiếm hoi trong suốt hai cuộc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp quan sát trận đánh mở màn chiến dịch Đông Khê. Để đảm bảo tuyệt đối an toàn, đơn vị trinh sát chiến dịch đã bí mật bảo vệ và đưa Bác lên đài quan sát. Hình ảnh Người ngồi trên cao chỉ đạo chiến dịch sau này trở thành biểu tượng thiêng liêng của ngành tình báo quốc phòng.
Chiến thắng Đông Khê không chỉ mở toang cánh cửa biên giới phía Bắc mà còn tạo thế phản công chiến lược cho toàn quốc. Trên nền thắng lợi ấy, Đông Xuân năm 1953-1954, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hạ quyết tâm mở chiến dịch Điện Biên Phủ, trận quyết chiến lịch sử, kết liễu giấc mộng thực dân của Pháp trên toàn cõi Đông Dương.
[âm nhạc]
Nằm ở Tây Bắc Việt Nam, Điện Biên Phủ là một thung lũng lòng chảo khép kín rộng khoảng 20 km, được bao bọc bởi những dãy núi hiểm trở. Vị trí địa lý đặc biệt này là cửa ngõ chiến lược sang Lào, án ngữ tuyến giao thông Đông Dương và có thể cắt đứt tiếp tế của Việt Minh cho cách mạng Lào và Campuchia. Nắm bắt đặc điểm địa hình, thực dân Pháp không chỉ mơ tưởng mà đã bắt tay vào xây dựng Điện Biên Phủ thành một pháo đài bất khả xâm phạm với tham vọng là nghiền nát bất kỳ đợt tấn công nào từ quân đội ta.
Bộ chỉ huy chiến dịch của ta đối mặt với một bài toán sống còn: đó là làm sao nắm được toàn bộ bố trí trận địa địch trong lòng chảo hiểm trở, khi bản đồ quân sự ta lúc ấy chỉ chiếm tỉ lệ 1/100.000, quá thô sơ để triển khai pháo binh chính xác.
Tiếp tục nghiên cứu sâu tình hình tương quan và bố trí lực lượng của địch, tháng 11 năm 1953, Cục Quân báo đã thành lập Ban Quân báo chiến dịch gồm các bộ phận nghiên cứu, cung tù binh, binh địa và đồ bản. Ban do Cục trưởng Lê Trọng Nghĩa làm trưởng ban, Cục phó Cao Pha làm phó ban. Lực lượng trinh sát kỹ thuật gồm một trung đội với 10 máy thu. Lực lượng trinh sát bộ đội do đồng chí Nguyễn Việt trực tiếp phụ trách.
"Theo sự chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu và của Cục Tình báo là phải làm thế nào mà hình thành được cái bản đồ sơ đồ chiến đấu, sơ đồ chiến đấu của địch đấy về Điện Biên Phủ."
[âm nhạc]
"Đến chiều hôm ấy thấy thả một cái dù đỏ, thấy thả dù đỏ thì chúng tôi ngỡ ngay. Nếu thả dù đỏ thì phải là sĩ quan mới được đi dù đỏ. Thế mà hôm bỗng nhiên tôi thấy có một cái dù đỏ xuống thì không phải là người, thì chúng tôi nghi ngay, nghi có gì đặc biệt. Thế thì buổi tối hôm ấy là chúng tôi sẽ tiếp tục mò. Mò vào trên bay thì nói thực là nói thế này rất dễ thôi, nhưng mà chúng tôi phải qua những bãi mìn vất vả lắm rồi cắt bao nhiêu hàng rào mới vào trên bệnh viện nó bắn pháo sáng luôn. Chúng tôi phát hiện cái gì đỏ thì chúng tôi cho là trong bụng tôi bảo thế, làm lắm rồi thì lấy tất cả dù quấn hết cả hòm ra lạnh, chúng tôi cố kéo anh em là rút, rút ra chỗ kết thúc nấy thì sau đấy giang trong rút ra ngoài hàng rào, chúng tôi lấy dao găm cậy ra, cậy ra. Chính tay tôi đến 32 cái bàn hòm và trong đó có 32 cái ảnh."
[âm nhạc]
Những bản đồ này có giá trị đặc biệt về quân sự, thể hiện tương đối đầy đủ và chi tiết các yếu tố địa hình, địa vật. Đây là tài liệu quý phục vụ kịp thời Bộ Tổng Tham mưu soạn thảo chi tiết, chính xác kế hoạch tác chiến, hiệp đồng giữa Bộ Binh và pháo binh. Nhờ sự kết hợp các phương thức nắm địch một cách sáng tạo và linh hoạt, tình báo đã phục vụ kịp thời cho Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Chiến dịch có cơ sở quyết định thay đổi phương châm: đánh nhanh, giải quyết nhanh sang đánh chắc, tiến chắc.
[âm nhạc]
Nhà báo Pháp Bna Phone khi có mặt tại Sở chỉ huy chiến dịch quân viễn chinh Pháp tại Điện Biên Phủ đã viết: "Việt Minh thu được những tấm bản đồ tỉ lệ 1/25.000 khu vực Điện Biên Phủ mới in là một bất lợi lớn hơn. Từ bản đồ này, pháo binh Việt Minh có điều kiện chỉ huy bắn với độ chính xác cao, gây thiệt hại nặng cho quân viễn chinh Pháp sau này."
Chính nhờ "bảo bối" này mà pháo binh của ta đã triển khai các trận địa một cách dễ dàng theo phương châm hỏa khí phân tán, hỏa lực tập trung mà Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã căn dặn. Có bản đồ, pháo 105 ly của ta như có mắt, bắn chính xác vào các cứ điểm của Pháp.
[âm nhạc]
Trong thời khắc quyết liệt nhất của chiến dịch, tại cứ điểm Đồi A1, bộ đội ta đối mặt với sự phản kích dữ dội của quân thù. Tổ trinh sát Tiểu đoàn 426 dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn phó Nguyễn Ngọc Bảo đã mưu trí phát hiện hầm ngầm kiên cố của địch. Phát hiện ấy mở đường cho công binh đặt khối thuốc nổ lớn đánh sập cứ điểm A1, cái gai nhức nhối nhất của chiến dịch, đồng thời phát lệnh tổng công kích đưa chiến dịch đến thắng lợi hoàn toàn.
Từ chiến hào đến diễn đàn quốc tế, Việt Nam bước lên với tư thế của một dân tộc chiến thắng, buộc đối phương ký kết Hiệp định Genève, từ đây mở ra kỷ nguyên giành độc lập của các nước Đông Dương. Thế nhưng, Hiệp định Genève còn chưa ráo mực. Ngày 8 tháng 8 năm 1954, Hội đồng An ninh Mỹ họp dưới sự chủ trì của Eisenhower, chủ trương chính thức thay thế Pháp ở Việt Nam và phải loại bỏ Bảo Đại.
"Từ bóng tối hậu trường, đế quốc Mỹ bước ra ánh sáng với vai trò mới, chỉ đạo và dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, phá hoại Hiệp định và mở màn cho một cuộc chiến dài hơn, khốc liệt hơn cuộc chiến của thế lực mới trong vỏ bọc bảo vệ tự do."
Sau 9 năm kháng Pháp, ngành tình báo quân sự Việt Nam đã lột xác mạnh mẽ, từ lực lượng non trẻ trở thành mũi nhọn tinh nhuệ, sẵn sàng bước vào trận tuyến mới. Nhận diện sớm hiểm họa từ sự can thiệp của Mỹ tại miền Nam Việt Nam, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lập tức xây dựng lực lượng tình báo chiến lược, thâm nhập sâu vào vùng địch để nắm chắc tình hình, chuẩn bị cho cuộc chiến lâu dài. Tận dụng thời cơ 300 ngày tập kết và chuyển quân giữa hai miền, lực lượng tình báo cấp tốc tuyển chọn, huấn luyện cán bộ. Hàng trăm điểm báo viên cơ cán được đưa vào Nam, phối hợp với lực lượng tại chỗ hình thành thế trận tình báo vững chắc, sẵn sàng cho cuộc chiến giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
"Tôi nhận được một cái điện của Trung ương bảo về ngay, tôi lên Việt Bắc. Lúc bấy giờ Trung ương ở trên Chuyên hóa thì lúc bấy giờ anh Trường Chinh mới nói rằng là cậu phải đi ra."
"Chính trường Sài Gòn giữa thập niên 1950 là một bàn cờ đầy biến động. Các đảng phái tranh giành ảnh hưởng trong hỗn loạn. Trong bối cảnh đó, Ngô Đình Diệm dưới sự hậu thuẫn của Mỹ từng bước thâu tóm quyền lực, loại bỏ Bảo Đại và thiết lập một chế độ độc tài gia đình trị. Năm 1954, ông Trần Quốc Hương vào Nam Bộ giữ chức Ủy viên rồi Phó Ban Địch tình của Xứ ủy Nam Bộ, phối hợp cùng các đồng chí Mai Chí Thọ, Cao Đăng Chiếm tổ chức huấn luyện tình báo."
"Trong giai đoạn này, nhiều hạt giống được lựa chọn để gieo vào đất đối phương với mục đích là chui sâu, leo cao vào bộ máy ủy quyền. Tình báo này có cái đặc biệt đấy. Anh không cầm tay chỉ việc được đâu. Bây giờ phải ứng hóa từng giờ, từng phút. Mình làm sao mà lại đến đấy mà bay thế này? Thì cho nên là nó phải rất độc lập. Thế mình ấy chỉ có mỗi cái là tức là như là trong kịch bản đấy thì tức là cái người phải có viết được cái kịch bản. Thế rồi dọn chọn diễn viên thì các nghiệp viên là diễn viên. Thế còn lúc bấy giờ mình đứng ấy thì chẳng qua mình làm cái vai đạo diễn, anh đóng thế nào cho nó đúng."
[âm nhạc]
Căn cứ năng lực, xuất thân và cá tính, mỗi người có một vai diễn phù hợp: từ nhà báo quốc tế, cố vấn chính trị, sĩ quan quân đội đến giáo dân mộ đạo.
Lê Hữu Thúy được giao nhiệm vụ làm phái viên chính phủ bên cạnh lực lượng Hòa Hảo, rồi trở thành cánh tay phải của nhiều nhân vật chủ chốt, thực hiện kế sách "văn hóa kẻ thù", kích động gây mâu thuẫn giữa các đảng phái để chúng chống đối, thanh toán lẫn nhau. Trong khi đó, Vũ Ngọc Nhạn lại được biết đến như ông cố vấn, người từng được anh em họ Ngô xem như người thân trong gia đình và tham gia bàn bạc những vấn đề cơ mật tại Dinh Độc Lập.
Phạm Xuân Ẩn theo con đường báo chí, trở thành phóng viên quốc tế. Ông không chỉ là nhà báo giỏi mà còn là điệp viên chiến lược, người đã gửi về hàng trăm tài liệu tối mật giúp Đảng ta nắm rõ từng bước đi của đối phương. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhận xét về Phạm Xuân Ẩn với câu nói: "Dường như chúng ta có mặt ngay trong phòng tác chiến của Mỹ."
Ông Đặng Trần Đức, người mang bí danh Ba Quốc, hoạt động ngay trong Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo của Việt Nam Cộng hòa, nơi được xem là "sào huyệt" của tình báo Ngụy. Ông từng chép tay 35 bộ hồ sơ gián điệp cài cắm ở miền Bắc và chuyển về cấp trên, giúp ta bóc gỡ toàn bộ mạng lưới đó.
[âm nhạc]
Với Phạm Ngọc Thảo, ông đảm nhận một vai diễn mà ở đó tất cả cùng chơi một ván bài mà mọi lá bài đều lật ngửa. Trong suốt quá trình hoạt động, rất ít người biết đến thân phận của Phạm Ngọc Thảo, một nhà tình báo đặc biệt, đơn tuyến độc lập, tác chiến đến tận hơi thở cuối cùng. Ông Bùi Kiến Thành, nguyên trợ lý đặc biệt của Tổng thống Ngô Đình Diệm, là một trong số hiếm hoi những nhân chứng từng tiếp xúc và chứng kiến những hoạt động đầy ẩn ý của Phạm Ngọc Thảo trong nội bộ chính quyền Sài Gòn.
"Thì theo những báo cáo tôi nhận được trước đó là ông Lý Chánh ông giao nhiệm vụ cho Phạm Ngọc Thảo ở lại và thâm nhập lên cái mức cao nhất để hủy diệt cái chính quyền miền Nam."
Với khả năng thuyết phục sắc sảo và nghệ thuật gieo niềm tin vào đúng người đúng lúc, Phạm Ngọc Thảo từng bước vượt qua mọi nghi ngờ, leo lên những vị trí trọng yếu trong bộ máy chính quyền Sài Gòn. Từ vai trò Tỉnh trưởng Kiến Hòa đến cố vấn chính trị, ông không chỉ củng cố vỏ bọc mà còn kích động mâu thuẫn nội bộ, làm rối loạn hàng ngũ lãnh đạo. Những cuộc đảo chính mà ông trực tiếp tham gia hoặc đứng sau điều phối đã rung chuyển chính trường miền Nam, khiến cả chế độ lẫn giới tình báo Mỹ phải dè chừng.
Trong tài liệu mật của CIA có đề cập: "Điệp viên Đại tá Phạm Ngọc Thảo vào thời điểm đó đã bị nghi ngờ có liên kết với cộng sản, nhưng trí tuệ linh hoạt và tính cách mạnh mẽ của ông đã vượt qua mọi nghi ngờ tại dinh thự và ông trở thành cố vấn quân sự tại Phủ Tổng thống, giữa trung tâm Sài Gòn nơi dày đặc tay mắt của CIA và mật vụ ngụy quyền. Các điệp viên chiến lược của ta đã âm thầm tạo ra những cơn sóng ngầm với đảo chính trường."
"Chính thế trận tình báo ấy đã góp phần tạo ra cơn địa chấn chính trị năm 1963 khi anh em Diệm Nhu bị lật đổ và sát hại, mở ra một giai đoạn hỗn loạn với nhiều cuộc đảo chính liên tiếp."
"Tôi nghĩ một trong những câu chuyện quan trọng nhất của cuộc chiến là việc Bắc Việt đã thành công như thế nào trong việc xâm nhập vào mọi cấp độ trong cấu trúc của người Mỹ tại Việt Nam. Từ quân đội, tình báo, xã hội, có hàng trăm điệp viên từ những người giúp việc trong khách sạn, trong trụ sở chỉ huy quân sự của Mỹ tại miền Nam Việt Nam cho đến tận trong phòng chiến tranh cao nhất."
Tài liệu mật của chế độ Ngụy Sài Gòn cũng phải tán dương: "Từ trước đến nay, ngoại trừ những giai thoại giả tưởng trong tiểu thuyết trinh thám, chưa bao giờ có những tổ điệp báo thành công đến như thế. Cụm A22 hoạt động và phát triển đều đặn suốt từ đó và đã thi thố nhiều thủ đoạn mà chúng ta phải nhìn nhận là huyền diệu và xuất sắc."
[âm nhạc]
Tháng 12 năm 1972, khi Hội nghị Paris về chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam rơi vào bế tắc, Mỹ quyết định tạo ra một cú sốc quân sự nhằm giành lợi thế trên bàn đàm phán. Kế hoạch Chiến dịch Linebacker II được vạch ra: cuộc tập kích bằng B52 lớn nhất trong lịch sử nhân loại nhằm đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá.
Trước đó, Mỹ liên tiếp thất bại về quân sự khi đưa quân tham chiến trực tiếp tại miền Nam. Cuối năm 1967, Bác Hồ đã đưa ra dự báo: "Trước sau gì địch cũng đánh ra Hà Nội và sẽ dùng B52. Các chú phải nghiên cứu để đánh được nó."
Trước quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, ngay từ những năm 60, tình báo quốc phòng đã triển khai tất cả các phương thức, các lực lượng để nghiên cứu thu thập thông tin về hoạt động của không quân và B52 của Mỹ, quyết không để Hà Nội rơi vào tình huống bất ngờ.
Ngày 1 tháng 10 năm 1972, đồng chí Phạm Xuân Ẩn phân tích nguồn tin và dự báo: "Mỹ sẽ ném bom miền Bắc nhằm phong tỏa cảng Hải Phòng. Mỹ muốn phản công mạnh để chấm dứt chiến tranh. Mỹ trước khi ngưng chiến phải giúp Thiệu đập tan bộ máy chiến tranh của ta."
Cũng trong thời gian này, đồng chí Đặng Trần Đức, tức Ba Quốc, cán bộ của ta tại Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo Ngụy, đã thu thập và báo cáo nguồn tin quan trọng. Một trung tá Mỹ tên Anel tiết lộ: "Mỹ sẽ không ký hiệp ước nếu chưa tung đòn cuối cùng, một cuộc tập kích chiến lược bằng toàn lực không quân để hạ gục tinh thần Hà Nội. Con ngáo ộp cuối cùng là B52."
Từ phân tích chiến lược, ông nhận định Chiến dịch Linebacker II là sự phối hợp cao độ giữa Mỹ và chính quyền Sài Gòn, đồng thời là điều kiện bắt buộc của Tổng thống Thiệu trước khi Mỹ ký Hiệp định Paris.
[âm nhạc]
Từ những tin tức điệp báo chiến lược giúp ta có sự chuẩn bị đánh B52. Để biến miền Bắc nước ta trở về thời kỳ đồ đá, Washington đã huy động 193 chiếc B52 từ Guam và Utapo cùng hơn 1000 máy bay chiến thuật. Ngoài khơi Biển Đông, các tàu sân bay đã vào vị trí, sẵn sàng tung ra hàng nghìn lượt xuất kích. Chúng tin rằng Hà Nội sẽ bị nghiền nát trong vài ngày. Nhưng trong từng bước chân của phi đội khổng lồ ấy, tình báo ta đã đi trước một nhịp: giải mã tín hiệu, bóc tách đội hình, đọc ra ý đồ.
"Ngày 18 tháng 12 năm 72 ở đấy thì 11:30 một cái máy bay trinh sát thời tiết bay ngang qua Hà Nội báo rằng là 'bull is work table'. Tại sao nó bay đến Hà Nội nó lại bảo là thời tiết làm việc được? Có nghĩa là thời tiết Hà Nội đánh được."
"Máy bay địch cách Hà Nội 60 phố, các lực lượng phòng không đã dàn chiến đấu."
Đúng như dự báo của Cục 2, sau 19 giờ, radar của Bộ Tư lệnh Phòng không-Không quân phát hiện chiếc máy bay B52 vào Hà Nội và trận đánh B52 bắt đầu.
[âm nhạc]
Với những chiến công thầm lặng, tình báo quốc phòng đã góp phần vào chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, đánh dấu sự thất bại thảm hại của không lực Hoa Kỳ.
[âm nhạc]
Ngày 29 tháng 3 năm 1973, toàn bộ quân đội viễn chinh Mỹ cuốn cờ. Tướng Weyand, Tổng tư lệnh quân đội Mỹ, nhập vào số 250 lính Mỹ cuối cùng, lặng lẽ rời khỏi Việt Nam, chấm dứt sự có mặt của quân đội xâm lược nước ngoài trên đất nước ta sau 115 năm kể từ năm 1858 khi quân đội thực dân Pháp xâm lược nước ta. Đó là lời kết cho một chương sử đầy máu và sai lầm, nơi mà bom đạn không thể thay thế cho sự hiểu biết và chiến lược quân sự không thể lấp đầy khoảng trống của thất bại chính trị.
"Năm 1975 thì trên có yêu cầu đối với lại Cục Điệp báo H63 chỉ đạo cho cơ cán đi đồng chí Phạm Xuân Ẩn phải trả lời cho được cái câu hỏi là khi mà chúng ta tổng tấn công nổi dậy giải phóng miền Nam thì liệu Mỹ có đưa quân Mỹ quay trở lại miền Nam Việt Nam hay không?"
"Chủ yếu là Bộ Chính trị nhưng mà phải nói rằng ông Lê Duẩn mình phải trả lời. Trả lời thì bằng những cái báo cáo của anh em."
Điệp viên Phạm Xuân Ẩn nhanh chóng gửi tài liệu ra cứ. Bản phân tích khẳng định: "Quân đội Mỹ sẽ không trở lại miền Nam. Hạm đội 7 sẽ không trở lại Biển Đông. Mỹ không sử dụng pháo đài bay B52 ở chiến trường Đông Dương. Mỹ tiếp tục cắt giảm ngân sách viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa, kể cả quốc phòng." Đặc biệt, tài liệu nói rõ: "Chỗ yếu nhất, khó bảo vệ nhất là chiến trường Tây Nguyên, vùng 2 chiến thuật. Ở vùng 2 chiến thuật, chiến trường hiểm yếu nhất là Buôn Ma Thuột."
Thông qua mạng lưới tình báo chiến lược và phân tích từ nhiều nguồn tin, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã chọn Buôn Ma Thuột, đúng ngay khâu yếu nhất của đối phương, làm điểm đột phá vào tháng 3 năm 1975. Vấn đề tiếp là khi ta dồn sức giải phóng miền Nam, nếu Mỹ quay lại sẽ ra sao? Tin tức nhiều nguồn cho thấy quan tâm lớn nhất của Mỹ lúc đó không phải là sự an nguy của Việt Nam Cộng hòa mà là danh dự nước Mỹ. Và đó là nội dung bức điện Tổng thống Mỹ Gerald Ford trả lời Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu sau khi Buôn Ma Thuột thất thủ. Vấn đề là làm sao có được nội dung tuyệt mật đó.
[âm nhạc]
"Cuối năm 73 á, tôi đang chỉ đạo một cơ sở khác thì được lệnh quả tóc về nhận nhiệm vụ mới ở căn cứ. Nhiệm vụ đó là tôi phải lên gặp một đối tượng tên là anh Ba Minh."
Đồng chí Nguyễn Văn Minh, tức Ba Minh, là một nhân viên văn thư tại Văn phòng Bộ Tổng Tham mưu Ngụy, vụ Tổng thống. Ông đã tiếp cận được hàng loạt tài liệu tuyệt mật. Sự tin cậy đặc biệt từ các đời Tổng Tham mưu trưởng dành cho ông thể hiện rõ qua một biệt lệ hiếm có: ông là thượng sĩ duy nhất được vào phòng Tổng Tham mưu trưởng mà không cần xin phép trước. Chính người thượng sĩ ấy đã tiếp cận được bức điện tối mật do Gerald Ford gửi Thiệu, kịp thời gửi cho bà Hai Kim chuyển vào căn cứ. Thông tin ấy vào thời khắc quyết định đã giúp Trung ương xác quyết hai vấn đề chiến lược: "Mỹ không trở lại được nữa mà chỉ viện trợ cho ngày 700 triệu đô." Đó đây là một tin tức rất có giá trị giúp cho trên hạ quyết tâm giải phóng hoàn toàn Việt Nam, thống nhất đất nước năm 1975.
Trước diễn biến "một ngày bằng 20 năm", ngày 14 tháng 4 năm 1975, Bộ Chính trị quyết định Chiến dịch giải phóng Sài Gòn-Gia Định mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh. Ngày 26 tháng 4 năm 1975, sau một thời gian cơ động thần tốc, vừa hành quân vừa tiến công địch, giải phóng địa bàn, vừa bổ sung lực lượng, trang bị, năm binh đoàn chủ lực của Quân giải phóng chia thành năm mũi cùng lúc tiến công vào trung tâm thành phố Sài Gòn-Gia Định. Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh giành thắng lợi. Thành phố Sài Gòn-Gia Định hoàn toàn giải phóng, ngụy quyền Sài Gòn chính thức sụp đổ.
[âm nhạc]
Trong thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của nhân dân ta, có sự đóng góp quan trọng và to lớn của tình báo quốc phòng, đưa một lực lượng cán bộ cốt cán len sâu vào trong bộ máy của địch ở những cái vị trí then chốt, thu thập thông tin có tính chiến lược rất là cao, phản ánh về trên kịp thời để ở trên có những cái quyết sách đúng đắn và chúng ta đã đánh thắng các cái chiến lược phá hoại của Mỹ của Ngụy.
Trong suốt quá trình hoạt động, với những chiến công góp phần vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc, lực lượng tình báo quốc phòng luôn ghi nhớ sâu sắc và vận dụng linh hoạt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Tình báo cũng như mọi việc khác phải dựa vào dân. Tai mắt của người tình báo có hạn. Nhân dân có hàng chục triệu tai mắt. Việc gì họ cũng có thể nghe, có thể thấy, có thể biết. Vì vậy, tình báo phải cố gắng làm thế nào cho nhân dân giúp sức thì sẽ thành công to."
Tư tưởng ấy không chỉ là kim chỉ nam mà còn là linh hồn của nghệ thuật tình báo Việt Nam. Từ đó, lực lượng tình báo quốc phòng đã vận dụng một cách sáng tạo, hiệu quả trong suốt các cuộc kháng chiến, xây dựng thế trận tình báo vững chắc giữa lòng địch, gắn bó mật thiết với nhân dân. Chính sự phối hợp ấy đã tạo nên những chiến công vang dội, góp phần làm nên bản sắc độc đáo của nghệ thuật tình báo Việt Nam.
Nhân dân chính là nền tảng, là cơ sở, là cha mẹ của tình báo quốc phòng. Bản chất và truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam cũng khẳng định điều đó. Quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Cán bộ chiến sĩ của quân đội là con em của nhân dân, dựa vào lòng dân để hoạt động, để chiến đấu.
"Cái vụ mà đem con ra ngoài biển sông để nuôi tụi này, những khi mà giặc nó phục kích á, rồi những cái cứu vậy đó thì thấy rằng cái lòng dân rất là ủng hộ cách mạng, nhờ đó mà tồn tại được."
[âm nhạc]
Sau chiến thắng mùa xuân năm 1975, dân tộc ta bước vào thời kỳ mới, thời kỳ đất nước thống nhất, xây dựng và phát triển. Trước yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, tình báo quân sự đã nhanh chóng chuyển hướng chiến lược, tập trung nắm địch trên các vùng biên giới, biển đảo. Nhờ đó, ta sớm phát hiện âm mưu của Khmer Đỏ, giúp bảo vệ biên giới và giải phóng nhân dân Campuchia khỏi họa diệt chủng.
"Tôi thấy là cái chỉ huy của cái tình báo mình rất tốt, vào đánh đúng vào vị trí đó, luồn sâu đánh thẳng vào thì chúng tôi đánh đúng ngay để giúp cho Campuchia từng bước ổn định, thịnh vượng."
Trước đó, vào giai đoạn 1958-1959, cách mạng Lào rơi vào thời kỳ khó khăn khi phái Cực hữu tiến hành đảo chính, giải tán quốc hội và bắt giữ 16 cán bộ yêu nước, trong đó có Souphanouvong. Với tình thế này, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã đề nghị Việt Nam hỗ trợ giải cứu các lãnh tụ Pathet Lào. Thực hiện chỉ thị của Tổng Quân ủy, Cục Tình báo tổ chức lực lượng giải thoát Souphanouvong và các lãnh đạo bị giam tại Viêng Chăn. Sau 10 tháng chuẩn bị kỹ lưỡng, đêm 23 rạng sáng 24 tháng 5 năm 1960, tổ công tác đã đưa thành công Souphanouvong cùng 15 lãnh đạo thoát khỏi nơi giam giữ ra vùng căn cứ cách mạng. Chiến công này là dấu mốc quan trọng, tạo bước ngoặt chiến lược cho cách mạng Lào và thể hiện sâu sắc tình hữu nghị đặc biệt Việt-Lào, như lời Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: "là chiến công đặc biệt tiêu biểu cho tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam."
và nhân dân Lào. Chúng ta hãy giữ vững và phát triển tình hữu nghị đặc biệt ấy.
[âm nhạc]
Trong giai đoạn năm 1978-19979, tình báo đã nắm chắc tình hình biên giới phía Bắc, tham mưu xây dựng thế trận vững chắc, ngăn chặn hiệu quả các đòn tấn công của đối phương. Cuối thập niên 80, tình báo mở rộng phạm vi hoạt động, nắm địch toàn diện cả trong và ngoài nước, phát hiện và phá tan âm mưu nghi binh chiến lược của đối phương, giúp điều chuyển chiến lược và bình thường hóa quan hệ giữa hai nước. Tình báo cũng đã kịp thời phát hiện và ngăn chặn các vụ xâm nhập của các tổ chức phản động.
Sau cái năm 75 ấy thì do cái tình hình cả bên các nước xài chung nghĩa cũng có phức tạp. Thế nhưng mà cả cái thằng địch cũng lợi dụng những cái phức tạp đó thì tìm mọi cách để mà thâm nhập để mà đi sâu vào cái tình hình Việt Nam nhưng mà tình má quốc phòng bao giờ cũng nắm xước được chính cái đó đất nước sẽ ổn định.
Năm 1992, để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Cục Tình báo được nâng cấp thành Tổng Cục Tình báo Quốc phòng Việt Nam, thể hiện sự lớn mạnh và vai trò quan trọng của ngành tình báo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
Sau khi Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ phải nắm địch, nắm tình hình một cách sâu hơn, toàn diện hơn, kịp thời hơn để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, phục vụ sự nghiệp đổi mới đất nước. Việc nâng cấp Tổng cục tình báo cũng như ban hành pháp lệnh tình báo nhằm tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng tình báo, đồng thời khẳng định vị trí vai trò của tình báo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện sự phát triển về chức năng, nhiệm vụ của tình báo. Chuyển từ tình báo, chiến lược về quân sự là chủ yếu, sang làm tình báo chiến lược toàn diện, qua đó tạo hành lang pháp lý cho tổ chức và hoạt động của Tổng cục tình báo quốc phòng.
Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc ngày càng phức tạp, đòi hỏi tình báo quốc phòng phải chuyển mình mạnh mẽ. Từ chỗ tập trung vào quân sự, lực lượng đã phát triển thành tình báo chiến lược toàn diện, bao phủ các lĩnh vực chính trị, quốc phòng an ninh, đối ngoại, kinh tế, khoa học công nghệ và văn hóa xã hội. Dưới sự chỉ đạo của Đảng, đặc biệt qua pháp lệnh và nghị định tình báo, Tổng cục đã có cơ sở pháp lý vững chắc để tổ chức lực lượng, mở rộng địa bàn, nâng cao chất lượng tin tức và hiệu quả tham mưu. Toàn Tổng cục đã đoàn kết thi đua vừa thực hiện tốt nhiệm vụ tin tức và hoạt động tình báo, vừa xây dựng thế trận, mở rộng lĩnh vực hoạt động mới. Nhờ đó, tình báo quốc phòng đã dựa báo chính xác các vấn đề chiến lược, tham mưu hiệu quả cho Đảng, Nhà nước, quân đội, không để bị động bất ngờ. Đặc biệt, lực lượng đã nắm chắc âm mưu diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ, thu thập tin tức phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế, xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng. Những năm gần đây, tình báo quốc phòng tiếp tục tạo bức đột phá toàn diện, góp phần nâng cao vị thế Việt Nam và quân đội nhân dân trên trường quốc tế.
Những năm đầu, thế kỷ thứ 21 là giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ của đất nước trên tất cả các lĩnh vực, nhất là trên hướng kinh tế, khoa học công nghệ và hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh đó, yêu cầu nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước, quân đội đặt ra đối với tình báo quốc phòng ngày càng cao có thể khái quát trong bảy chữ: toàn diện, chuyên nghiệp, hiệu quả cao. Toàn diện, tức là lĩnh vực hoạt động phải toàn diện. Theo đó, không chỉ nắm tin tức về quân sự mà còn phải tập trung nắm tin tức về chính trị, đối ngoại, kinh tế, khoa học công nghệ phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ mới. Chuyên nghiệp, tức là lập trường tư tưởng phải tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, phải giữ vững bản chất cách mạng trong bất luận hoàn cảnh nào. Hiệu quả cao, tức là phải biết từ sớm, từ xa các thông tin có tác động ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia dân tộc. Hiệu quả cao còn thể hiện ở chỗ tình báo quốc phòng được lãnh đạo Đảng, Nhà nước và quân đội sử dụng trong quá trình hoạch định chính sách cũng như quá trình ra quyết sách lãnh đạo, điều hành đất nước và quân đội.
Trải qua 80 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và phát triển, bao thế hệ cán bộ chiến sĩ ngành tình báo quốc phòng Việt Nam đã kế tiếp nhau kiên định, vững vàng, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc.
[âm nhạc]
Với 1139 liệt sĩ, 274 thương binh và gần 1000 đồng chí bị giam cầm trong các nhà tù của địch, góp phần viết nên trang sử truyền thống vẻ vang. Hai lần được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc Lập, Huân chương Quân công hạng nhất và nhiều phần thưởng cao quý khác. Cùng với 38 lượt tập thể và 43 cá nhân thuộc Tổng cục 2 được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Nhiều tập thể, cá nhân được khen thưởng vì lập thành tích đặc biệt xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ.
[âm nhạc]
Sinh thời, Bác đã hai lần trực tiếp đến thăm và ba lần gửi thư động viên, căn dặn, định hướng hoạt động đối với cán bộ chiến sĩ tình báo suốt hai cuộc kháng chiến và bảo vệ Tổ quốc. Trong những năm hòa bình, qua từng thời kỳ cách mạng, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quân đội luôn đặc biệt quan tâm sâu sát chỉ đạo xây dựng ngành tình báo quốc phòng ngày một lớn mạnh, trưởng thành để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao của đất nước.
Trong giai đoạn cách mạng mới, để đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ, tình báo quốc phòng cần tiếp tục giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng. Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đổi mới mạnh mẽ tư duy nghiệp vụ, trong đó xác định tình báo quốc phòng phải đi trước, đón đầu, xây dựng cơ cấu tổ chức tinh gọn, sát với tình hình thực tiễn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, tạo ra thế trận tình báo liên hoàn, linh hoạt, hiểm hóc và hiệu quả. Chủ động đi vào những lĩnh vực mới, đồng thời đầu tư một cách thỏa đáng cho trang thiết bị nghiệp vụ để tiến thẳng lên hiện đại, căn cơ, bài bản trong phát hiện sớm các vấn đề chiến lược cũng như trong công tác nghiên cứu, dự báo và tham mưu chiến lược. Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng sẽ tiếp tục quan tâm, đổi mới, sáng tạo không chỉ trong lĩnh vực di chuyển đường bộ mà còn vượt xa hơn thế với việc phát triển lớp hơi nhằm mở ra khả năng ứng dụng trong những lĩnh vực mới. Misselin Motion for Life. Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng sẽ tiếp tục quan tâm, chỉ đạo sát sao để tình báo quốc phòng ghi tiếp những chiến công, thành tích trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Với những thành tích đặc biệt xuất sắc, trong những năm vừa qua, Tổng cục Tình báo đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân lần thứ hai trong thời kỳ đổi mới, Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng nhất năm 2020, Huân chương Chiến công hạng nhất năm 2023. Thành tích này đánh dấu bước ngoặt lịch sử trên chặng đường vẻ vang 80 năm xây dựng, chiến đấu, phát triển của ngành tình báo quốc phòng Việt Nam.
[âm nhạc]
[âm nhạc]
Lực lượng tình báo quốc phòng nhất định sẽ đồng tâm hiệp lực, nỗ lực phấn đấu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng lực lượng trọng yếu, tuyệt đối trung thành, tin cậy đặc biệt của Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân. Đảng, Nhà nước, Quân đội, nhân dân và cá nhân tôi luôn luôn đặt trọn niềm tin vào tình báo quốc phòng, sẽ luôn luôn quan tâm, ủng hộ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các đồng chí hoàn thành chức năng, nhiệm vụ được giao.
Trải qua 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, được Đảng, Bác Hồ, quân đội giao nhiệm vụ giáo dục, rèn luyện và luôn được sự phối hợp giúp đỡ hiệu quả của các ban bộ, ngành trung ương, địa phương, các cơ quan, đơn vị trong và ngoài quân đội, sự che chở, đùm bọc của nhân dân. Tình báo quốc phòng đã luôn kiên định, vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Bước vào kỷ nguyên vươn mình phát triển của dân tộc trước sự biến động nhanh chóng của tình hình, tình báo quốc phòng tiếp tục phát huy truyền thống đơn vị anh hùng, quán triệt sâu sắc đường lối quan điểm của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, phát huy sức mạnh tổng hợp, khơi dậy khát vọng cống hiến. Chủ động, nhạy bén, sáng tạo, thực hiện tốt các mục tiêu, không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tình báo, phục vụ đắc lực cho lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng trong đánh giá, nhận định tình hình, xác định chủ trương, chính sách và xử lý các tình huống, không để bị động bất ngờ.
Trải qua 80 năm xây dựng, chiến đấu và phát triển, tình báo quốc phòng Việt Nam đã khắc sâu vào lịch sử dân tộc những chiến công thầm lặng nhưng to lớn. Những chiến công ấy đã đi vào huyền thoại. Những con người ấy cũng trở thành huyền thoại mà cả thế giới phải ghi nhận. Tuy nhiên, số người được nhắc đến chỉ là một phần nhỏ so với hàng vạn cán bộ chiến sĩ trong ngành đã âm thầm cống hiến, hy sinh. Dưới ánh sáng của Đại hội Đảng bộ Tổng cục lần thứ 17, lực lượng tình báo quốc phòng đang bước vào thời kỳ phát triển mới toàn diện, hiện đại, đặc biệt chủ động thích ứng trên không gian mạng và địa bàn chiến lược. Hôm nay khi đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình, các thế hệ tiếp nối không chỉ tưởng nhớ mà còn noi gương cha anh, viết tiếp những trang sử vẻ vang bằng trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng cống hiến để tình báo quốc phòng Việt Nam mãi là lực lượng đặc biệt tin cậy, tuyệt đối trung thành, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền và lợi ích quốc gia trong tình hình mới.
[âm nhạc]